Ẩm thực đặc sản Lạng Sơn

Đồng bào các dân tộc miền núi cao Lạng Sơn nói chung, người Nùng, Tày nói riêng việc sinh hoạt ăn uống hàng ngày, thường có hai bữa chính và một bữa phụ. Hai bữa chính đó là bữa cơm trưa (“kin ngài”), bữa cơm chiều (“kin pjầu”)và ăn lót dạ sáng sớm (“kin lèng” ). Khi nhà có việc làm suốt đêm (mo, then làm sinh nhật – “hất khoăn” chẳng hạn) họ có bữa ăn cháo gà hoặc chè giữa đêm gọi là “sliu dẻ” mà bình thường không có thêm bữa này!

Thức ăn trong bữa cơm chính trong ngày, các món thịt, cá, tôm tép, các món rau xào, luộc hoặc nấu canh, các loại dưa muối… (người Nùng Cháo bố chồng ít khi ngồi ăn cùng con dâu, anh trai không ngồi ăn cùng em dâu và khi có khách nam thường bố, con trai cả tiếp cơm).

Các món ăn chế biến từ gạo tẻ (ngoài cơm và cháo)

“Péng tịa” (bánh tẻ): chọn gạo ngon, ngâm nước ấm đôi ba tiếng đồng hồ, dùng cối đá xay cả nước thật mịn (nay là xay máy) ước chừng lượng nước đủ chín tới (không được để chín quá) bắc lên chảo gang quấy đều cô đặc vào gần như bánh đúc thì bắc xuống để nguội. Trong khi đó chuẩn bị sẵn lạc nhân giã nhỏ trộn với thịt băm và gia vị (hành phi, hạt tiêu, muối, mì chính…) làm nhân rồi dùng lá chuối (hoặc lá dong) gói như ta gói bánh chưng nhỏ vậy. Khi gói xong cả mẻ bánh tẻ xếp vào chõ đồ xôi mà đồ, mang lên bóc ăn thử thấy không dính lá là được.

“Cao tân” (bánh đúc): xay bột gạo tẻ cũng như ta xay làm bánh tẻ, nhưng khi nấu chỉ pha thêm ít “nước vôi lọc trong” để miếng bánh đúc khi nguội săn lại (chan nước dùng không bết dính), đổ xuống nồi to (hay chảo gang) rồi dùng đũa cả quấy đều, bột chín kỹ đổ ra mâm thau hoặc khuôn (như khuôn đậu phụ) để nguội cứng, xắn ra từng miếng một. Người Nùng gọi bánh này là “cao tân” (bánh đúc).

“Pẻng khoai (bánh khoai sọ): cần chọn được thứ khoai sọ ngon bở (khoai môn càng tốt). Khoai được gọt cạo sạch vỏ, thái lát ra từng miếng, ngâm nước lạnh độ một hai giờ. Còn bột gạo cũng ngâm nước, xay xát như bột bánh tẻ, trộn với khoai bắc lên chảo đun. Cứ hai phần khoai một phần bột (thậm chí 3/4 khoai), lúc đun bếp phải dùng đũa ca khoắng nhào đều. Và khi chín tới thì bắc xuống để nguội. Bánh này cũng dùng nhân bánh như ta gói bánh tẻ và dùng chò đồ như đồ bánh tẻ vậy.

banh khoai so

Món ăn chế biến từ gạo nếp (nếp cái và nếp con)

Lạng Sơn có mấy loại thóc nếp, ngoài nếp con (“khẩu muốn”)các loại nếp cái gồm có: Nếp hoa vàng (nếp hương), nếp đỏ hung, nếp râu dài (“nua múm rì”), nếp cẩm (nua đăm)…

Nếp con thường dùng để nấu rượu uống, làm những loại bánh không cần độ thơm dẻo như: Bánh rán, slu nhục, áp chảo, bánh khảo, chè lam, bánh bỏng… Còn nếp cái, ngoài nâu các loại xôi còn để làm các loại bánh cần độ mềm, dẻo như bánh dày, bánh chưng, khẩu sà (kể cả rượu nếp ngọt)…

Xôi nếp

Ngoài những món xôi nếp thông thường, như xôi lạc, xôi vò, xôi cẩm, xô i gấc, xôi đường mật… ở đây chỉ xin giới thiệu các loại “xôi đặc sản” gồm:

Xôi trứng kiến: Cuối tháng 2, tháng 3, tháng 4 âm lịch khi các tổ kiến rừng mẩy, đợi lúc nắng gắt đi bổ đôi tổ, dốc lấy trứng phơi nắng cho kiến thợ chạy hết, làm sạch rồi rang khô với hành phi thơm lừng và trộn với xô i nếp đã đồ sẵn (trộn từng dĩa hay cả mẻ tùy người chế biến và đông hay ít người ăn).

Xôi trám đen: Tháng 7 và 8 âm lịch, mua lấy đôi ba trăm quả trám đen (chọn quả to đều, dày cùi) mang cho vào nồi gang (hoặc xoong), đổ nước lã bắc lên bếp lửa, dùng bàn tay khuấy liên tục (để cho nhựa trám chảy tan hết), bao giờ nước nóng già thì rút tay lên, đậy kín vung lại rồi nhấc nồi xuống để nguội hẳn (quãng hơn một tiếng sau). Lấy trám ra bóc màng vỏ ngoài đi, tách lấy cùi rồi cho vào chảo (đã có hành khô phi mỡ sẵn), dùng bàn sản nghiền nát trộn với xôi nếp đã đồ sẵn, ăn sẽ rất bùi, thơm ngon, béo ngậy.

Xôi “nhộng nàng tiên” ong bò vẽ: Tháng 8 và 9 âm lịch, chợ Kỳ Lừa có nhiều tổ ong bò vẽ. Mưa lấy độ một hai ký về, bóc màng che miệng ngăn di, bắc chảo cho nước măng chua xuống – úp từng miếng tổ ong xuống lập là (hoặc cái sàng nhỏ) đun cách thủy để các con nhộng ong săn cứng lại, rang mỡ thơm lừng rồi trộn với xôi nếp ăn rất tuyệt. (Nếu có nước măng chua hai ba năm đồ tổ ong bò vẽ nói trên, là một loại thuốc bổ chữa đau mỏi lưng và cảm cúm rất hiệu nghiệm).

Xôi hoa ngót rừng: Quãng tháng 2, 3 âm lịch các cây ngót rừng (phjắc slầu) bắt đầu đâm chí chít các chùm hoa non ra thân cành, đi hái về thái nhỏ. Khi đồ xôi (hoặc nấu cơm nếp) trải đều trên gạo nếp, đồ xôi chín mang ra trộn đều, nêm bột ngọt, mỡ, muối… ăn rất ngon.

Còn làm xôi hoa phoón (“bjoóc slầm hom ón, bjooc phoón hom van”)đơn giản hơn. Hái đôi ba chùm “bjoóc phoón”, khi đồ xôi bỏ xuống trên gạo, đậy kỹ vung và bao giờ xôi chín, bỏ bá chùm hoa đi, trộn đều muối mỡ ta sẽ được một mé xôi “thơm thơm ngon ngọt” để ăn.

Cốm: Quãng đầu tháng 9 âm lịch, thấy ruộng lúa nếp hương hạt mẩy (bấm thử còn có sữa), cắt bông về tuốt lấy dăm bảy ký (cho xuống nước gạt hạt lép, vớt lên rá để khô) cho vào chảo gang rang cho săn giòn vỏ thóc, rồi mang xuống cối giã, sàng sẩy bỏ trấu cốm, lại cho lên chảo rang săn khô lần nữa, rồi lại đem xuống cối giã. Cứ làm thế đôi ba lần là được. Ta được mẻ cốm mềm dẻo, thơm dịu trộn với đường cát hay đỗ xanh phi hành mỡ… ăn rất ngon.

Các loại bánh nếp chế biến thông thường

Bánh chưng coóc mò, bánh gio, bánh rán, bánh khảo, bánh dày, cơm lam (kháu lam, khảu đẩy)… cũng chế biến giống nhiều nơi khác (kể cả miền xuôi), ở đây chỉ xin giới thiệu cách chế biến vài thứ có tính “đặc sản Lạng Sơn”.

Bánh “slu nhục”: Dùng ¼ khoai lang, 1/5 thịt lợn băm và 2/3 bột nếp trộn đều cho xuống cối giã cho mịn nhuyễn như bột bánh rán (thêm gia vị mì chính, hạt tiêu), dùng hai bàn tay lăn tròn bỏ xuống vạc dầu (mỡ lợn hay dầu lạc) như là chao bánh tôm, bánh rán. Chú ý cho đều lửa, vừa giòn tới là được (nếu quá lửa trông cháy sém bên ngoài mất ngon).


Bánh “áp chao”: Cách chế biến bột nếp như là bột bánh rán. Thịt vịt làm sạch, chặt miếng to dài hơn ngón tay cái (chân vịt nguyên cái và đầu vịt bổ đôi) cho ướp gia vị gồm có: Xì dầu, bạt ngọt, hạt tiêu, ngũ vị hương, trộn đều, ủ kín và khi chao ăn, cần dùng chiếc muôi bẹt trải bột nếp bọc kín miếng thịt nhúng xuống chảo dầu đang sui sùng sục một lúc – ước chừng thịt chín, vỏ bánh vàng giòn là được.

Bánh “khoai môn chao”: Quan trọng là chọn mua được thứ khoai môn bở và thơm ngon, thái ra từng miếng (bằng ngón tay cái). Bột nếp đã được trộn tẩm hương vị cho ngon, cuộn bọc miếng khoai cho xuống chảo dầu như là chao bánh rán vậy.

“Pẻng khuô” (bánh cười): Muốn có thứ “bánh cười” ngon phải kiếm vỏ sài dầu trắng (chài dù) cây bấc, bẹ chuối, cuộng lá dong phơi khô đốt lấy than tro để ngâm gạo nếp cái như ngâm gạo nếp đồ xôi bánh dày vậy. Nhưng phải ngâm kỹ (một buổi) rồi cho xuống chõ đồ chín, bỏ xuống “loóng” giã mịn nhuyễn như giả bánh dày, lấy ra mẹt hay mâm tãi mỏng từng miếng (tất nhiên có lót bột sắn để khỏi dính) rồi cắt thành từng miếng, chiều rộng bằng bàn tay, xén ra từng bánh (to dài bàng ngón tay trỏ, rải ra mẹt, cót phơi ở chỗ thoáng gió, không được phơi nắng gắt, chỉ cần khô, như vậy để lâu mới không mốc).

Cách chao bánh: trước tiên bỏ xuống chảo, lấy rượu trắng tắm cho ướt bánh, bỏ xuống mỡ rồi mới bắc chảo lên bếp lửa chao – chú ý ngọn lửa cho phồng đều và khi mang lên đủ cứng không tọp lại là được. Khi chao mẻ hai, mẻ ba.. phải đợi dầu nguội (hơ bàn tay qua không nóng) mới được bỏ bánh xuống chao. Khi có rổ bánh đã chao xong vừa ý, nấu đường mật cũng phải có kỹ thuật – tức nấu đường thành kẹo, khi trộn bánh phai đảo cho đều thì bánh mới không dính ráp, tay cầm ăn cùng được mới gọi đúng bánh cười (pèng khuô).

Bánh “Coong phù” (Người Nùng gọi là “Phoỏng fù”): Hiện nav, ở miền núi vào mùa rét đâu cũng làm bánh trôi ăn, nhưng thứ bánh trôi “coóng phù Kỳ Lừa vẫn ngon có tiếng! Có lẽ do cách thức làm chăng?

Bột gạo nếp xay xong cho vào túi vải thô cho chóng cạn kiệt nước (nên trộn thêm ít bột sắn dây cho săn dẻo). Coóng phù có nhân và không nhân. (Nhân thường được làm bằng lạc vừng rang giã nhỏ, trộn với thịt nạc băm mịn nhỏ) lúc làm xúc từng thìa nhỏ cho vào trong bột, làn viên tròn bằng đầu ngón chân cái, khi ăn thả xuống nồi nước đường đang sôi, bánh nổi trôi lên là chín. Chú ý: Nên dùng đường phên chế nước đường Coóng phù, đập vào một hai củ gừng, rắc vài hạt muối cho thơm đượm và ngon ngọt hơn.

Bánh ngải “chì nhá ngải”: Vào dịp tết mùng ba tháng ba (tết Thanh minh) bà con thường ra bài nương ngô, bờ ruộng hái lấy lá “ngải cứu” hoặc là đay gai (bâu pán) về làm bánh ngải ăn. Cách thức chế biến bánh ngải (“pẻng nhả ngải”), hái lấy vài ba cân lá ngải non, chắt lấy ít nước tro bếp trong, cho vào nồi luộc chín, rửa và nhặt sạch những cuộng, xơ lá chưa nhừ, xong hòa với bột nếp cho xuống cối giã cho thật mịn nhuyễn rồi nặn thành từng cái, nhồi nhân ở giữa (nhân bánh gai thường là lạc vừng rang giã nhỏ hay nhân đỗ xanh trộn đường kính). Dùng lá chuối hột cuộn hai chiếc một rồi xếp vào chõ sành (hoặc khay) bắc lên bếp hấp, độ một tuần hương là chín. Loại bánh này ăn có mùi hương vị đặc biệt, khác với bánh gai của người Kinh.

Ngoài bánh “nhả ngải” nói trên, vào dịp tết đồng bào Tày Nùng Lạng Sơn thường làm bánh dậm ngọt (tức bánh đường nhân đỗ xanh), hánh dậm mặn nhân lạc (hoặc thịt băm với nấm hương, mộc nhĩ) và sau khi đồ chín có thể

Những món ăn chế biến từ các loại thịt

Với truyền thống mâm cỗ ngon, đa dạng, phong phú, từ xưa tới nay ăn liên hoan, tiệc cưới của người Tày, Nùng, Hoa Lạng Sơn, thường là “6 đĩa 4 bát” (đĩa: thịt gà luộc, thịt lợn quay, vịt chao, lạp xưởng xào thập cẩm, nộm chua. Bát: gà tần, canh măng, canh mộc bì, canh khoai môn). Xin giới thiệu một số món ăn được chê biến bằng các loại thịt lợn, thịt gà, vịt..

Thịt lợn quay

Đây là món ăn không thể thiếu tại các dịp lễ hội của đồng bào các dân tộc Lạng Sơn. Muốn có thịt lợn quay ngon phải là lợn ỷ (tốt nhất lợn Móng Cái tầm 10kg móc hàm). Cách mổ như là mổ lợn bình thường, nhưng phải chú ý làm lòng sạch, không làm xây xát da và khi mổ bụng để moi gan ruột thì vết rạch càng ngắn càng tốt. Chú ý khi luồn cây sắt hoặc khúc tre trúc từ mõm ra sau đuôi, nhớ dùng lạt giang (hoặc dây thép) xâu luồn qua xương sống cột chặt vào cây, đừng để khi quay nó xoay tròn.

Thịt lợn quay

Muốn cho miếng thịt lợn quay ngon, ngoài lá mác mật còn có nước tẩm gia vị gồm: Bột mác mật khô, đạm tương, đậu phụ nhự, gừng núi đá, bột ngọt, đường kính (mật ong càng tốt)… đem hòa trộn trong một, hai tô nước và sau khi nhồi nhét xong lá mác mật, đổ đều nước gia vị đó vào trung bụng lợn, khâu lại thật chật không cho thứ nước ấy rò rỉ ra ngoài. Gác lên phơi gió một hai giờ cho da khô.

Trong khi đó, chuẩn bị mật ong (phải mật ong rừng thạt) cùng bát “dấm đường” sẵn. Trước khi bắc lên lửa quay, lấy mật ong pha nước phết lên khắp da lợn. Khi hơ quay, chỗ nào khô quá sẽ phết nước dấm vào Quay hơ bên đống lửa “than hoa” trên dưới hai tiếng đồng hồ, bao giờ thấy huyết đen chảy ra lỗ mũi, da phồng rộp vàng rộm, những giọt mỡ rớt xuống than hồng nghe xèo xèo dậy mùi thơm đặc trưng là được. Khi chặt ăn tuốt lá mác mật đệm đĩa, nước trong bụng là nước chấm rất tuyệt.

Nếu ai đã đến Lạng Sơn, ăn thịt lợn quay, thưởng thức cùng rượu Mẫu Sơn xứ Lạng, chắc chắn khó có thể quên được món ẩm thực rất riêng nơi đây.

Sá xíu (có lẽ là từ Hán – Nùng mà ra)

Muốn có đĩa sá xíu ngon, trước tiên phải chọn được miếng thịt mông, vai hoặc thăn lợn ngon cho ngâm tẩm nước gừng pha rượu dấm… cho xuống chảo mỡ (hoặc dầu lạc) đang sôi chao, khi đảo thấy vàng ươm đều là được.

Sau khi vớt thịt để nguội, thái lát ngang thớ thịt, mỗi miếng dày hai ba ly, to bằng ba bốn ngón tay, khi nào sắp bày lên đĩa thì đem trộn gia vị đã chế sẵn (Gia vị sá xíu gồm có: Bột thảo quả, ngũ vị hương (“ửng hoóng fẳn”), hành phi, xì dầu, đạm tương, đường mật, cho xuống chảo trộn đều với số lát thịt sá xíu đã thái và khi xếp lên đĩa bầy cỗ, người ta thường đệm lót lạc rang ở dưới, trông đĩa sá xíu đẹp mắt và ngon.

Lạp xưởng (fung sàng)

Khi lựa chọn thịt lợn làm “fung sàn” miễn là thịt mới, không cầu kì chi cần lọc bì đi, nên pha lẫn hai phần nạc, một phần mỡ. Dùng dao sắc thái lát miếng thịt mỏng, càng dài càng tốt (miếng thịt mỏng dài dễ nhồi nhét, tỷ lệ thịt nạc thịt mờ ăn vừa ngon vừa đẹp mắt). Còn hương vị tẩm ướp lạp xưởng bao gồm: Bột gừng núi đá (khinh phja), ngù vị hương, đậu phụ nhự, đường kính, hạt tiêu vừa độ… trộn cho thật đều rồi nhồi chặt từng khúc lòng lợn non (slảy ón đã được làm kỹ).


Lạp xưởng nếu để ăn dần lấy dây buộc từng khúc 20 phân treo lên phơi; làm cho cỗ cưới thì cuộn tròn áp dựa vào khung chữ thập hơ lửa nướng chín. Thái lát xếp lên đĩa (họ thường rang lạc đệm lót đĩa cho đẹp mắt).

Khâu nhục (và cả khô sao)

Chọn lấy thịt ba chỉ cắt vuông mỗi miếng độ 0,7kg (7 lạng) luộc chín để nguội rồi dùng que nhọn châm nhiều lần vào bì, bỏ xuống nước lạnh ngâm. Bắc chảo lên bếp, cho mỡ vào. Khi mỡ sôi bỏ miếng khâu nhục xuống chao (dầu mỡ càng ngập nhiều càng tốt) bao giờ lật lên thấy mặt bì vàng ươm, rộp lên lây bàn sản gõ kêu “cộc cộc” là được. (Nếu để làm “khô sao” cứ thái mỗi tảng thịt thành 8 – 10 miếng, xếp bày đĩa sứ có đệm lót lạc rang như lạp xưởng).

Riêng khâu nhục thái xong (8 – 10 miếng) xếp vào trong bát to, ngửa phần nạc lên, rải phần nhân đã ướp tẩm gia vị trộn sẵn, gồm có: tàu soi băm thái nhỏ, hột quả mác mật, bột thảo quả, đinh hương, gừng núi đá, mì chính, đôi ba lát khoai lang hoặc khoai môn vừa đầy miệng bát, rồi đậy đĩa sứ cho vào chõ đồ như đồ xôi, bánh vậy. Khi ngồi bàn ăn, người chủ mâm cỗ sẽ lật lại, úp bát xuống đĩa, chưng phần bì lên trông rất đẹp mắt.

Thịt vịt quay

Đây là món ăn đặc sản nổi tiếng cua Lạng Sơn, nhất là vịt quay Thất Khê. Phải chọn được con vịt bầu Thất Khê trên 2kg do đồng bào tự nuôi ( đã thay lông) thật béo với các gia vị liều lượng sau: Mác mặt khô, hành củ, gừng củ (mỗi thứ 10g) đạm tương, đậu phụ nhự (mỗi thứ 0,3g) đinh hương, thảo quả, cam thảo (mỗi thứ một ít), bột ngọt, đường cát (mỗi thứ hai thìa cà phê).

Vịt sau khi cắt tiết, dùng ống nhỏ thổi hơi vào bụng thật căng, dùng dây thít cổ giữ hơi lại để dễ làm lông và không bị xây xát, khi mổ nhớ moi cho sạch, nhất là phổi không để sót (Gia vị nhớ khuấy đều một tô nước, đổ cả vào bụng, dùng chỉ khâu chặt vết rạch và thít cổ dưới chỗ cắt tiết). Dùng móc treo con vịt hóng gió độ hai giờ cho da ngoài thật khô để trước lúc chao bôi mật ong (đã hòa rượu) nó mới bết dính và khi con vịt chao chín phồng, vớt lên trông mới đẹp mắt, thơm ngon.

Gà tần (Cáy xiền)

Nên chọn con gà ri độ nửa kg làm lông và mổ sạch, rút xương cổ, đút khúc da vào bụng thò đầu ra khâu lại.

Những hương liệu hòa làm nhản nhồi vào bụng gà bao gồm: thịt lợn ba chỉ, nấm hương, mộc nhĩ, hành khô (băm nghiền nhò) thảo quả, đạm tương, hạt tiêu, mì chính (mỗi thứ một thìa nhỏ hòa với rượu, mỡ cho đều, đem nhồi vào bụng gà rồi khâu lại, cho vào nồi nước ninh. Nhớ trước khi múc lên bát nên cho thêm ít miến đã trộn sẵn nấm hương).

Khoai môn hấp thịt (nhân thịt hấp)

Phải chọn được cú khoai môn vừa ý (to, bở – khoai Hợp Thành và Gia Cát là tốt nhất). Sau khi gọt sạch vỏ, cắt làm đôi rồi chẻ tư chẻ năm, mỗi miếng khoét lấy đi một miếng chính giữa (bằng con sò) để tiện nhồi nhân (những miếng vụn khoét ra nấu canh khoai môn với xương lợn rất ngon). Gia vị hương liệu để nhồi khoai môn hấp bao gồm: Thịt nạc băm nhỏ, nấm hương, hành củ (băm nhỏ) trộn với ít đậu phụ nhự (hoặc đạm tương) mì chính, tiêu bột trộn đều cho nhồi ấn vào từng miếng, xếp ngửa xuống bát to (kiểu như khâu nhục), lấy đĩa sứ úp lại rồi xếp vào chõ hấp độ nửa tuần hương. Lấy đũa chọc thử thấy khoai bở, nhân chín là được.

Nem Đông Kinh xứ Lạng

Xưa kia, mỗi khi triều đình mở yến tiệc hoặc sứ thần đi qua thì “nem Đông Kinh” được đem “tiến vua” hoặc khoản đãi sứ thần. Do đó địa danh này mới được ban cái tên: “Đông Kinh” tức phía Đông của kinh thành Thăng long. (… Tay cầm bầu rượu nắm nem. Mải vui quên hết lời em dặn dò…).

Sở dĩ nem Đông Kinh xứ Lạng ngon, bởi nó được làm bằng bì lợn lang dày, được chăn thả tự do (“lợn sạch” nuôi mỗi năm nặng ba bốn chục ký) lại có thính làm bằng đỗ tương rang giã nhỏ, rất thơm ngon.

Phở chua Kỳ Lừa (Phán loòng pan)

Một món ăn đậm đà bản sắc dân tộc, được du khách và mọi người ưa thích. Muốn có một tô phở chua ăn ngon, các vặt liệu, hương liệu cần chuẩn bị bao gồm:

– Lạc rang- giòn (rang cát càng tốt, giã nhỏ).

– Miến dong nhúng mềm, cắt dài bằng đốt ngón tay và khoai lang thái chỉ (hoặc nạo nhỏ) cho chao giòn.

– Thịt sá xíu thái nhỏ, lạp xưởng chao thái lát.

– Bánh phở mềm, dai độ hai lạng, đu đủ xanh nạo thành sợi nhỏ một lạng, giá đỗ xanh ½ lạng cùng ít tía tô, rau thơm, mùi tàu..

– Nước dấm chua, đường cát, bột sắn dây, cho cô sẵn cả ba thứ với dầu lạc (hoặc mỡ) thành một thứ nước dùng đặt sền sệt để nguội. Khi nào có khách ăn lần lượt cho vào bát to, gồm: bánh phở, đu đủ, giá đỗ trộn đều rồi cho miến, khoai chao giòn, thịt sá xíu, lạp xưởng, đập lạc rang rải lên trên rồi rưới nước “sốt” (tùy người thích chua ngọt nhiều, ít mà cho ướt đậm hay vừa phải), còn rau sống thì dùng tự nhiên. Phở chua ăn không bị ngây bởi vị chua ngòn ngọt, cay cay, bùi bùi rất thú vị. Tùy khẩu vị cua người ăn, có thể thêm chút chanh tươi, ớt hay tiêu. Đây là món ăn đặc sản đáng tự hào của người Lạng Sơn, bởi vậy nó là món không thể thiếu trong các dịp đón khách quý tới nhà.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN