Các món ăn đặc sản phổ biến toàn quốc

Mỗi địa phương, mỗi vùng, mỗi tỉnh đều có những món ăn đặc sản riêng. Riêng phần này giới thiệu một số món ăn mang tính toàn quốc, vùng nào cũng có như:

Bánh chưng

Là món ăn dân tộc, là một loại bánh không thể thiếu được trong dịp Tết Nguyên đán, để cúng tổ tiên ông bà. Vì vậy, ngày Tết đến dù người nghèo cũng cố chuẩn bị một vài cặp bánh chưng để ăn Tết.

bánh chưng
bánh chưng

Ở miền Bắc bánh chưng hình vuông, gói bằng lá dong (từ đèo Ngang trở vào Nam Bộ gói bánh hình tròn dài gọi là bánh tét, hoặc bánh đòn) hoặc bằng lá chuối. Dù gói bằng lá dong hay lá chuối, bánh chưng đều có màu xanh của lá tượng trưng cho đất.

Theo truyền thuyết dân gian kể lại thì bánh chưng, bánh giầy có từ thời vua Hùng, khi có vị hoàng tử dâng 2 thứ bánh này lên vua cha, được vua hết sức khen ngợi và nhường ngôi cho.

bánh tét
bánh tét

Việc gói bánh chưng cũng khá công phu tỉ mỉ. Ngoài việc chọn loại nếp ngon, đều hạt, được ngâm kỹ trước khi đem gói, còn phải chuẩn bị nhân bánh là thứ thịt lợn có đủ bì, mỡ và thịt nạc, đậu xanh cũng phải đều hạt, ngâm đãi sạch vỏ, nhặt bỏ những hạt sâu, mục… Lá dong (hoặc lá chuối) dùng gói bánh chưng phải chọn những lá bản to đều, còn tươi xanh. Gói bánh chưng không chặt quá, nhưng cũng không lỏng quá. Bánh gói xong cho vào nồi luộc khoảng trên 10 tiếng đồng hồ liên tục. Trong khoảng thời gian đó liên tục châm thêm nước. Luộc bánh thường bằng củi, mùn cưa hoặc trấu. Tốt nhất là củi thanh to chắc, lửa cháy đều thì bánh mới dền và ngon. Sau khi luộc xong, vớt bánh ra đem ép cho khô ráo, rồi treo lên.

Ngày nay, ngày thường, đặc biệt trong các đám cưới đều có bánh chưng, nhưng ăn bánh chưng trong ba ngày Tết mới cảm nhận được đầy đủ hương vị thơm ngon của bánh chưng… Bánh chưng ngày Tết ăn kèm với món dưa hành, giò lụa… càng làm cho miếng bánh chưng đậm đà hương vị cùng với không khí ngày xuân: cành đào (hay mai vàng), cây quất, thời tiết se lạnh, có khi lất phất mưa bay, làm cho không khí bữa ăn thêm nồng ấm.

Theo truyền thống, đêm 30 Tết, hoặc trước đó ít hôm, trong mỗi gia đình đã ngồi bên bếp lửa hồng nấu bánh chưng, vừa châm lửa vừa ôn lại chuyện cũ năm qua và đón chào năm mới với bao hy vọng năm mới những điều tốt đẹp sẽ đến.

Giò lụa

Giò lụa là một món ăn độc đáo của người Việt mà vùng nào cũng có. Có thể trong chế biến có những phụ gia khác nhau, hoặc mỗi vùng có cách gọi khác nhau. Chẳng hạn, người Nam Bộ gọi giò lụa là chả lụa. Nhưng thành phần cơ bản để làm nên giò lụa hoàn toàn giống nhau. Đó là điều cơ bản làm cho giò lụa được nhiều người ưa thích, kể cả khách nước ngoài, đặc biệt du khách phương Tây rất mê giò lụa Việt Nam.


Giò lụa
Giò lụa

Giò lụa Việt Nam làm bằng thịt lợn nạc, nhưng không phải thịt lợn nạc nào cũng giã được giò lụa. Thịt phải tươi, để tay vào còn âm ấm (không thể dùng thịt ướp tủ lạnh), lúc thái miếng thịt ra có cảm giác như miếng thịt đang “nhảy” trên mặt thớt. Đã có thịt ngon, đúng tiêu chuẩn làm giò lụa (bỏ hết bạc nhạc, gân), nhưng khâu quyết định cho giò lụa ngon hay không còn phụ thuộc khá lớn vào khâu giã giò. Đây là khâu mang tính kỹ thuật,nhưng cũng đòi hỏi sức lao động dẻo dai.




Lúc đầu chỉ giã một chày, cho thịt dập, rồi tiếp đó cho hàn the (hiện hàn the bị cấm, hoặc chỉ cho 1 lượng rất nhỏ), đường, muối, nước mắm ngon, bột ngọt (vừa phải), hạt tiêu… Sau đó phải giã hai chày, cho tới lúc thịt thật quánh, rút chày lên rất khó là được. Trong khi giã không cần giã mạnh mà cần nhất là đều tay, liên tục. Người có kinh nghiệm nghe tiếng người thợ giã giò là biết mẻ giò được hay hỏng. Có người cho rằng trong thời hiện đại có thể dùng cối xay điện để xay thịt làm giò lụa. Có thể làm được, nhưng sẽ không còn là giò lụa Việt Nam nữa.

giò lụa Ước Lễ
giò lụa Ước Lễ

Trước đây, vùng kinh kỳ có nhiều nơi làm giò lụa nổi tiếng và ngày nay vẫn giữ được truyền thống. Đó là giò lụa Ước Lễ (Thanh Oai – Hà Tây), Đình Bảng (Bắc Ninh). Giò lụa ngon nhất là cái đầu đày. Sởdĩ đầu đày ngon, thơm vì nó tụhết hương vị lá chuối vào. Lớp trong cùng là lá chuối non vàng nhợt màu lụa. Vì thế mới có tên là giò lụa. Lớp ngoài gói lá chuối già. Giò lụa thơm đậm vì mùi thịt tươi, với mùi thơm ngậy của lá chuối non luộc chín.

Phở

Phở là món ăn được tất cả mọi người Việt Nam từ Bắc chí Nam ưa thích. Theo các nhà nghiên cứu ẩm thực Việt Nam cho biết thì phở đã có cách nay hơn 100 năm. Nhưng phở có nhiều loại. Theo thống kê tuy chưa đầy đủ trên toàn lãnh thổ Việt Nam có hơn 17 loại phở. Ngoài ra, còn có những loại phở khá ngon, nhưng chưa được chính thức thừa nhận như phở mọc, phở thập cẩm…

Phở
Phở

Nguyên liệu phở, ngoài bánh phở ngon (làm bằng bột gạo) dai, dẻo, còn phải có thịt bò ngon. Tất nhiên có thể có loại thịt khác để làm phở như thịt gà. Nhưng cơ bản của phở là thịt bò.

Ăn cho đúng là phở chính cống, phải là phở thịt chín. Thịt chín thơm ngon hơn thịt tái. Mùi thơm thịt chín mới thể hiện đúng cái hồn, cái tinh túy của phở.

Phở có ở nhiều nơi, mỗi vùng có những đặc điểm riêng, nhưng nhìn chung và được nhiều người thừa nhận thì phở Hà Nội là ngon nhất. Bởi phở Hà Nội giữ được bí quyết khiến cho phở Hà Nội độc đáo, mà không nơi nào bắt chước được. Ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều hiệu đề “phở Hà Nội” chính cống, mà ăn vẫn không cảm nhận được hương vị thơm ngon của phở tại Hà Nội.

Có lẽ cái ngon của phở ngoài bánh, thịt, gia vị, còn một bí quyết nữa đó là nước dùng (nước phở). Tất nhiên không phải hiệu phở nào của Hà Nội cũng ngon cả. Ở Hà Nội, hiện nay số lượng cửa hàng phở ngon, giữ được truyền thống không còn nhiều.

Phở là món ăn bình dân, ăn vào bất cứ giờ nào cũng được. Cái đặc biệt tài tình của phở là mùa nào, thời tiết nào ăn cũng thấy ngon miệng. Phở, một món ăn gắn với người Việt. Người Việt xa xứ lâu năm, trong vô vàn nỗi nhớ, họ không thể quên món phở. Vì vậy, có người đã mạnh dạn tuyên bố rằng người Việt Nam còn thì phở vẫn còn.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN