NHỮNG ĐẶC TRƯNG ĐỘC ĐÁO CỦA VĂN HOÁ ẨM THỰC VIỆT NAM

Thái độ coi trọng việc ăn uống của người Việt

Như ta đã biết thì để duy trì sự sống, ăn uống luôn là việc quan trọng. Đối với người Việt Nam với nền văn minh nông nghiệp lúa nước thì luôn công khai rằng ăn quan trọng lắm: Có thực mới vực được đạo. Nó quan trọng tới mức Ông trời cũng không dám xâm phạm: Trời đánh còn tránh bữa ăn. Mọi hành động của người Việt đều lấy ăn làm đầu: ăn uống, ăn ở, ăn mặc, ăn nói, ăn chơi,… Ngay cả khi tính thời gian cũng lấy ăn uống và cấy trồng làm đơn vị: làm việc gì nhanh thì trong khoảng giập bã trầu, lâu hơn một chút là chín nồi cơm, còn kéo dài tới hàng năm thì là hai mùa lúa,…

Cơ cấu thực phẩm thiên về các loại thực phẩm có nguồn gốc thực vật

Ăn uống chính là văn hoá tận dụng tự nhiên. Cho nên trong bữa ăn của người Việt bộc lộ rất rõ dấu ấn của truyền thống văn hoá nông nghiệp lúa nước.

+ Đó là một cơ cấu thiên về ăn thực vật. Và trong thực vật thì lúa gạo đứng hàng đầu. Tục ngữ có những câu như: Người sống về gạo, cá bạo về nước; cơm tẻ mẹ ruột;…

+ Trong bữa ăn của người Việt, sau lúa gạo thì đến rau quả. Và đối với người Việt thì đói ăn rau, đau uống thuốc là chuyện tất nhiên. Ăn cơm không rau như đánh nhau không có người gỡ;…

bữa ăn của người Việt
bữa ăn của người Việt

Tuy nhiên, nói đến rau trong bữa ăn Việt không thể không nhắc đến hai món đặc thù là rau muống và dưa cà: An đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương, sự tích Thánh Gióng cũng gắn liền với quả cà,… Cà và rau cải đem muối dưa tạo thành những thức ăn độc đáo phù hợp với thời tiết và khẩu vị nên ngon miệng tới mức tục ngữ có câu: Có dưa, chừa rau; Có cà thì tha gắp mắm,…

Những thứ không thể thiếu trong bữa ăn của người Việt đó là các loại gia vị với sự đa dạng như: hành, gừng, ớt, tỏi, tiêu, rau mùi, rau húng, thì là,…

Tính cộng đồng

Người Việt có thói quen dọn sẵn thành mâm, dọn nhiều món ăn trong một bữa lên cùng một lúc chứ không như phương Tây ăn món nào mới mang món đó ra. Từ ngàn xưa đến nay, ăn uống là hành vi được người Việt ta đánh giá rất quan trọng, ảnh hưởng đến tính tình, phong cách và văn hóa của mỗi con người. Tính cộng đồng thể hiện rất rõ trong ẩm thực Việt Nam, bao giờ trong bữa cơm cũng có bát nước mắm chấm chung, hoặc múc riêng ra từng bát nhỏ từ bát chung ấy.

Sự uyển chuyển, mềm dẻo thể hiện qua cách ăn, dụng cụ ăn, các món ăn theo mùa, theo vùng và sự hài hoà âm dương

Để bảo đảm quân bình âm dương giữa con người với môi trường người Việt có tập quán ăn uống theo vùng khí hậu, theo mùa.

Việt Nam là xứ nóng (dương) cho nên phần lớn thức ăn đều thuộc loại bình, hàn (âm). Cơ cấu ăn truyền thống thiên về thức ăn thực vật (âm) và ít thức ăn động vật (dương) chính là góp phần quan trọng trong việc tạo nên sự cân bằng với môi trường.

Mùa hè nóng, người Việt thích ăn rau quả, tôm cá (là những thứ âm) hơn là mỡ thịt. Khi chế biến , người ta thường luộc, nấu canh, làm nộn, làm dưa tạo nên thức ăn có nhiều nước (âm) và vị chua (âm)vừa dễ ăn, vừa dễ tiêu, vừa giải nhiệt. Chính vì vậy, người Việt Nam rất thích ăn đồ chua, đắng cái chua của dưa cà, của quả khế , quả chanh, quả chay, cái đắng của vỏ chanh, mướp đắng (khổ qua). Canh khổ qua là món được người Nam Bộ đặc biệt ưa chuộng.


Mùa đông lạnh, người Việt ở các tỉnh phía bắc thích ăn thịt, mỡ là những thức ăn dương tính, giúp cơ thể chống lạnh. Phù hợp với mùa này là các kiểu chế biến khô, dùng nhiều mỡ như xào, rán rim, kho…. Gia vị phổ biến của mùa này cũng là những thứ dương tính như ớt, tiêu, gừng, tỏi…

Xứ nóng (dương) phù hợp cho việc phát triển mạnh các loài thực vật và thủy sản (âm), xứ lạnh (âm) thì phù hợp cho việc phát triển chăn nuôi các loài động vật với lượng mỡ, bơ sữa phong phú (dương). Như vậy, tự thân thiên nhiên đã có sự cân bằng.

Do vậy, ăn theo mùa chính là đã tận dụng tối đa môi trường tự nhiên để phục vụ con người, là hòa mình vào tự nhiên, tạo nên sự cân bằng biện chứng giữa con người với môi trường. Thức ăn đúng theo mùa, mùa nào thức ấy người xưa gọi là “thời trân”: Mùa hè cá sông, mùa đông cá bể, chim ngói mùa thu, chim cu mùa hè…

Ăn theo mùa cũng là lúc sản vật ngon nhất, nhiều nhất, rẻ nhất và tươi sống nhất.

Tính biện chứng trong việc ăn uống không chỉ thể hiện ở việc ăn phải hợp thời thiết phải đúng mùa, mà người Việt cón phải biết chọn đúng bộ phận có giá trị (Chuối sau, cau trước, Đầu chép, mép trôi,,,,) đúng trạng thái có giá trị ( Tôm nấu sống, bóng đẻ ươn, Bầu già thì ném xuống ao, Bí già đóng cửa làm cao lấy tiền…) đúng thời điểm có giá trị ( Cơm chín tới, cải vòng non, gái một con, gà ghẹ ổ).

Người Việt sử dụng đũa trong bữa ăn và gắp là một nghệ thuật, gắp sao cho khéo, cho chặt đừng để rơi thức ăn…Đôi đũa Việt có mặt trong mọi bữa cơm gia đình, ngay cả khi quay nướng, người Việt cũng ít dùng nĩa để xiên thức ăn như người phương Tây.

Tính hiếu khách

Trước mỗi bữa ăn người Việt thường có thói quen mời. Lời mời thể hiện sự giao thiệp, tình cảm, hiếu khách, mối quan tâm trân trọng người khác…

Tính hòa đồng đa dạng

Người Việt dễ dàng tiếp thu văn hóa ẩm thực của các dân tộc khác, vùng miền khác để từ đó chế biến thành của mình. Đây cũng là điểm nổi bật của ẩm thực của nước ta từ Bắc chí Nam.

Tính đậm đà hương vị

Khi chế biến thức ăn người Việt Nam thường dùng nước mắm để nêm, lại kết hợp với rất nhiều gia vị khác …nên món ăn rất đậm đà. Mỗi món khác nhau đều có nước chấm tương ứng phù hợp với hương vị. Các món ăn Việt Nam thường bao gồm nhiều lọai thực phẩm như thịt, tôm, cua cùng với các loại rau, đậu, gạo. Ngoài ra còn có sự tổng hợp của nhiều vị như chua, cay, mặn, ngọt, bùi béo…



BÀI VIẾT LIÊN QUAN