Các điểm tham quan du lịch ở tỉnh Cao Bằng

Cao Bằng là tỉnh ở vùng núi Đông Bắc, có diện tích 8.444,6km2, số dân năm 2004 là 509,9 nghìn người, tỉnh lỵ là thị xã Cao Bằng, và các huyện: Bao Lạc, Hà Quảng, Thông Nông, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Nguyên Bình, Hòa An, Quảng Hòa, Hạ Lang, Thạch An, Bảo Lâm.

Cao Bằng giáp với Trung Quốc ở phía bắc và phía tây, còn lại giáp với các tỉnh Bắc Thái, Tuyên Quang, Hà Giang, Lạng Sơn. Từ Hà Nội theo quốc lộ 3 đến thị xã Cao Bằng khoảng 272km, từ Đồng Đăng – Lạng Sơn,theo quốc lộ 4A đen thị xã Cao Bằng khoảng 118km (chất lượng đường chưa tốt).

Cao Bằng có địa hình đồi núi, khí hậu mát mẻ quanh năm, có nhiều phong cảnh đẹp nổi tiếng.

Cao Bằng là nơi sinh sống của nhiều tộc người như Tày, Nùng, Dao, H’Mông, Hoa, Kinh… Trong đó người Tày, Nùng chiếm số lượng lớn, họ có truyền thống văn hóa từ lâu đời, có nhiều lễ hội và các làn điệu dân ca như hát Then, hát Sli, hát Lượn, nhiều nghề thủ công truyền thống như nghề dệt thổ cẩm, nghề rèn, đan mây tre…

Từ lâu, Cao Bằng đã hấp dẫn du khách bỏi các di tích lịch sử và phong cảnh nổi tiếng như khu di tích Pác Bó, thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao.

Cao Bằng là mảnh đất cố truyền thông cách mạng, là nơi Bác Hồ đã ở, làm việc sau hơn 30 năm tìm đường cứu nước và là quê hương của anh hùng Kim Đồng. Cao Bằng có nhiều cửa khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc như Trà Lĩnh, Tà Lùng…

Cao Bằng có tiềm năng để phát triển các loại hình du lịch về nguồn, kết hợp với du lịch văn hóa các dân tộc, du lịch biên giới.

Tại thị xã Cao Bằng có nhiều nhà nghỉ, khách sạn khá hiện đại đáp ứng nhu cầu lưu trú ăn uống của du khách.

Di tích Pác Bó

Di tích Pác Bó thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, nằm sát đường biên giới Việt – Trung. Tên Pác Bó có nghĩa là “miệng (nguồn)”, Pác Bó là mảnh đất ghi dấu những ngày đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh sau hơn 30 năm tìm đường cứu nước, đã trở về tổ quốc trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam.

Di tích Pác Bó
Di tích Pác Bó

Di tích Pác Bó cách thị xã Cao Bằng khoảng 60km, đi theo đường tỉnh lộ 203.

Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, ngày 28 – 1 – 1941 Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước qua cột mốc 108. Cùng về với Người có đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên và nhiều đồng chí khác. Mười ngày đầu Bác ở trong gia đình ông Lý Quốc Súng, người dân tộc Tày. Để thuận tiện cho việc hoạt động cách mạng và giữ bí mật, ngày 8 – 2 – 1941 Bác đã chuyển ra ở và làm việc tại hang Pác Bó. Bác thường phải đốt củi để sưởi ấm, trong hang còn lưu giữ một tấm gỗ là giường nằm của Bác.

Nơi đây có phong cảnh núi rừng (núi Tiên), suối chảy (suối Giàng), hùng vĩ, thơ mộng, Bác đã vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, lãnh đạo Đảng và nhân dân đánh Nhật, đánh Pháp đưa Cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Do vậy, Bác đã đổi tên núi Tiên thành núi Các Mác, suối Giàng thành suối Lê Nin.

Những năm tháng sống và làm việc ở đây đầy nguy hiểm, khó khăn, thiếu thốn, nhưng Bác luôn lạc quan, tin tưởng ở thắng lợi của Cách mạng, Bác đã sáng tác những vần thơ thể hiện tinh thần đó:

“Non xa xa, nước xa xa


Nào phải thênh thang mới gọi là

Kia suối Lê Nin đây núi Mác

Hai tay xây dựng một sơn hà” (Pác Bó hùng vĩ) !

và:

Sáng ra bờ suối tối vào hang

Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng

Cuộc đời cách mạng thật là sang” (Tức cầnh Pác Bổ)

Tại Khuổi Nệm, một địa điểm cách hang Pác Bó khoảng 1km. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì hội nghị Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương lần thứ VIII (nay là Đảng cộng sản Việt Nam) tháng 5 năm 1941, quyết định thành lập mặt trận Việt Minh, lập căn cứ địa Cách mạng.

Khu di tích Pác Bó cũng ghi lại kỷ niệm lần Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lại nơi này ngày 20 – 2 – 1961. khi về thăm lại Pác Bó, nhớ lại những năm tháng hoạt động ở đây, Bác đã xúc động thành thơ:

“Hai mươi năm trước cũng tại đây

Đảng vạch con đường đánh Nhật Tây.

Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu

Non sông đất nước có ngày nay”


Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ xúc động trước tình cảm của nhân dân Cao Bằng đôi với Bác, núi rừng Cao Bằng đón Bác, ông đã sáng tác bài hát nổi tiếng “Trở lại Cao Bằng”. Nhà thơ miền núi Nông Quốc Chấn cũng thể hiện cảm xúc của mình qua những vần thơ về tình cảm của Bác đối với Pác Bó:

“Ôi quê hương đất nước

Được Bác Hồ đặt tên

Núi gọi là Các Mác

Suối gọi là Lê Nin.”

Pác Bó với phòng cảnh hữu tình, trở thành một địa danh thiêng liêng với mọi người Việt Nam và là điểm du lịch đặc sắc. Pác Bó còn là nơi bắt đầu xây dựng đường Hồ Chí Minh giai đoạn II (2005 – 2010).

Thác Bản Giốc

Thác Bản Giốc nằm ở địa phận xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh. Từ thị xã Cao Bằng đi theo quốc lộ 3, tỉnh lộ 206 tới thác Ban Giốc khoảng 85km.

Bản Giốc là một thác nước cao, hùng vĩ và đẹp vào loại nhất Việt Nam. Từ độ cao trên 30m, những khối nước đổ xuống qua nhiều bậc đá. Khác với nhiều thác nước ở Việt Nam, thác Bản Giốc có chiều rộng lớn tới hàng trăm mét,  giữa thác nước có các mô đá rộng, phủ đầy cây, khi thác nước chảy xuống chia thành 3 luồng nước đổ xuống sông Bằng. Thác nước cao, rộng, cuồn cuộn đô xuống những tảng đá phẳng làm bọt tung trắng cả một vùng, tạo phong cảnh lung linh, huyền ảo, và hùng vĩ.

Thác Bản Giốc nằm gần biên giới Việt – Trung, khi tới thăm thác, du khách có thể tham gia vào những hoạt động du lịch quá canh, có thể mua những món quà lưu niệm thú vị của người dân ở đây.

Cách thác Bản Giốc khoảng 1km là hang động Ngườm Ngao, động dài khoảng 3km. Động Ngườm Ngao gồm có cả động khô và động ướt do một dòng sông ngầm chảy qua. Trong động có nhiều nhũ đá, măng đá, mành đá kỳ ảo, rất đẹp. Động Ngườm Ngao được đánh giá là một trong những hang đọng đẹp có giá trị về kiến tạo địa chất ở Việt Nam.

Thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao là những thắng cảnh đẹp và là điểm du lịch hấp dẫn các du khách. Tuy nhiên, kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch ở đây còn hạn chế, chưa đáp ứng các nhu cầu của du khách.

Trong tuyến du lịch thị xã Cao Bằng – Thác Bản Giốc du khách có dịp ghé thăm làng nghề rèn cổ truyền Phúc Sen.

Thác Bản Giốc
Thác Bản Giốc

Làng nghề Phúc Sen

Làng rèn Phúc Sen là một làng nghề truyền thống, cách thị xã Cao Bằng khoảng 30km, nằm sát quốc lộ 3 từ thị xã Cao bằng đến thác Bản Giốc, thuộc huyện Quảng Hòa. Làng đã có lịch sử hình thành khoảng hơn một nghìn năm.

Phúc Sen là làng của đồng bào Tày. Hầu hết các gia đình của làng đều làm nghề rèn. Nghè rèn đã góp phần cải thiện cuộc sống của dân làng. Sản phẩm nghề rèn của làng làm ra là những công cụ sản xuất nông nghiệp, đồ dùng hằng ngày như dao quắm, rìu, kéo, dao thái, cuốc, đồ nghề mộc…có độ cứng bền, chất lượng tốt. Trong kháng chiến chống Pháp, làng Phúc Sen còn tham gia đúc vỏ lựu đạn phục vụ kháng chiến, sản phẩm rèn của làng Phúc Sen có mặt ở hầu hết các chợ của tỉnh Cao Bằng và được người dân trong vùng tín nhiệm. Đến làng Phúc Sen, du khách không chỉ tham quan tìm hiểu nghề rèn thủ công truyền thống, mà còn có thể tìm hiểu những phong tục tập quán, truyền thông văn hóa của người dân nơi đấy.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN