Các điểm tham quan du lịch ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ

Điểm du lịch Đại Lải

Điểm du lịch hồ Đại Lải nằm trên địa bàn hai xã Ngọc Thanh và Cao Minh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc, cách Hà Nội 50km, cách Việt Trì 50km, Vĩnh Yên 25km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 20km. Đây là điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách từ Hà Nội và các tỉnh, khu dân cư ở xung quanh.

Hồ có diện tích 525 ha, sâu trung bình 21,5m, chứa khoảng 30 triệu m3 nước.

Trên mặt hồ có đảo Chim rộng 3ha, chỗ cao nhất trên 23m. Trong lòng hồ còn có nhiều đảo nhỏ. Đây là hồ nhân tạo, chứa nước của những suối chảy từ phía bắc và đông bắc của hồ trên núi Tam Đảo. Vùng cung cấp nước cho hồ có diện tích gần 6.000 ha. Hồ tưới nước cho khoảng 3.000ha đất canh tác.

Phía tây và tây nam của hồ là dãy núi Thằn Lằn có địa thế cao, từ đây có thể quan sát được toàn cảnh của khu vực hồ. Ven hồ có nhiều bãi bằng phẳng, nước nông, sạch, có thể thích hợp làm bãi tắm.

Điểm du lịch Đại Lải

So với các hồ tự nhiên và nhân tạo khác ở Hà Nội, hồ Đại Lải có chất lượng nước tốt, hoàn toàn có khả năng đáp ứng nhu cầu tắm và bơi thuyền. Hằng năm, hồ còn cung cấp khoảng 6 triệu m3 nước dùng cho sinh hoạt.

Điểm du lịch Đại Lải có phong cảnh đep, khí hậu tốt, lượng mưa trung bình năm 1.300 – 1.400mm, số ngày mưa ít, phù hợp với các loại hình du lịch trong suốt năm. Gần hồ còn có 500ha rừng tự nhiên và 300ha rừng trồng, về mùa đông, hồ còn là nơi cư trú của các đàn chim trời le le, mòng két… tạo cho phong cảnh của hồ thêm trữ tình, sinh động.

Tuy nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch ở đây còn hạn chế, cơ sở vật chất kỹ thuật đang được khai thác là nhà nghỉ của Bộ Văn hoá – Thông tin, có khả năng giải quyết 70 chỗ nghỉ đêm, khách sạn Xuân Hoà có thể chứa 120 chỗ nghỉ cho khách.

Vườn quốc gia Tam Đảo

Thông tin chung

Ngày 21 – 1 – 1977 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 41 – TTg công nhận Tam Đảo là khu rừng cấm với diện tích là 19 000ha.

Ngày 6 – 3 – 1996 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 136/QĐ – TTg phê duyệt “Dự án khả thi đầu tư xây dựng Vườn quốc gia Tam Đảo”.

Ngày 15 – 5 – 1996 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đã ra Quyết định số 601/NN – TCCB về việc thành lập Vườn quốc gia Tam Đảo trực thuộc Bộ.

Vườn quốc gia Tam Đảo nằm trong dãy núi Tam Đảo, trên địa phận 23 xã của 5 huyện và 1 thị trấn: Tam Đảo, Lập Thạch, Bình Xuyên (Vĩnh Phúc), Sơn Dương (Tuyên Quang) và Đại Từ (Thái Nguyên), Vườn quốc gia Tam Đảo cách Hà Nội 70km về phía tây bắc. Có toạ độ địa lý: Từ 21021’ đến 21°42′ vĩ độ Bắc và từ 105°33, đen 105o44, kinh độ Đông.

Vườn quốc gia Tam Đảo có diện tích 36.883 ha gồm: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 17.295 ha (độ cao trên 400m). Phân khu phục hồi sinh thái: 17.286ha. Phân khu nghỉ mát và du lịch: 2,302 ha.

Tiềm năng du lịch chủ yếu

Địa hình – Khí hậu – Thuỷ văn

Dãy núi Tam Đảo chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam như một bức tường thành chắn gió mùa Đông Bắc cho vùng đồng bằng Bắc Bộ, gồm 20 đỉnh sắc, nhọn. Trong đó cao nhất là đĩnh Tam Đảo Bắc cao 1.592m, ở trung tâm có 3 đỉnh Thiên Thi cao 1.375m, Thạch Bàn cao 1.388m, Phù Nghĩa cao 1.300m.

Vườn quốc gia Tam Đảo có khí hậu nhiệt đới gió mùa đai cao, mát mẻ, thích hợp cho hoạt động du lịch. Tại trạm Tam Đảo nhiệt độ trung bình năm là 18°c, nhiệt độ tối cao tương đối 33,1°c, nhiệt độ tỗì thấp tương đối là – 0,2°c. Lượng mưa trung bình năm là 2.630,3mm; số ngày mưa 193,7; độ ẩm trung bình là 87%.

Vườn quốc gia Tam Đảo có nhiều sông suối, các suối ở sườn đông bắc núi Tam Đảo đổ xuống sông Công, các suối ở sườn tây nam đổ vào sông Phó Đáy tạo phong cảnh đẹp như Thác Bạc, suối Tiên là những cảnh quan hấp dẫn du khách.

Hệ sinh thái đặc trưng và hệ thực vật

Hệ sinh thái đặc trưng ở Vườn quốc gia Tam Đảo là hệ sinh thái rừng mưa mùa nhiệt đới thường xanh với 5 kiểu rừng chính:

Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đối phân bố ở độ cao dưới 800m, có nhiều loài gỗ quý có giá trị kinh tế như chò chỉ, dổi, re, …

Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới trên núi thấp ở độ cao từ 800m trở lên với các loài thực vật thuộc họ re’ dẻ, chè, mộc lan, sau sau, ở độ cao trên 1.000m thường gặp các loài thực vật thuộc ngành hạt trần như thông nàng, thông tre, pơ mu, sam bông.

Rừng lùn trên đỉnh núi là kiểu phụ rừng đặc thù kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp, được hình thành trên đỉnh núi dốc hay đỉnh núi cao thường xuyên có mây mù che phủ, cây gỗ thường có kích thước nhỏ với thân xoắn, vặn như dổi nhung, hồi núi, vối nước và các cây thuộc họ đỗ quyên…

Rừng tre nứa với các loài phổ biến như nứa, giang, vầu, sặt gai là loại rừng phục hồi sau nương rẫy hoặc khai thác, ở độ cao dưới 500m thường là nứa, 500 – 800m là giang, trên 800m là vần và sặt gai.


Rừng phục hồi sau nương rẫy gồm các cây lấy gỗ ưa sáng mọc nhanh như ba bét, ba soi, bồ cu vẽ, thẩu tấu, dền, dung, màng táng…

Đã xác định ở Vườn quốc gia Tam Đảo có tới 904 loài thực vật thuộc 478 chi, 213 họ, trong đó có 64 loài thực vật quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam và 42 loài đặc hữu.

Động vật

Khu hệ động vật Vườn quốc gia Tam Đảo gồm 307 loài, trong đó lớp thú có 64 loài, lớp chim có 239 loài, lớp bò sát có 76 loài, lưỡng cư có 28 loài, khu hệ côn trùng gồm 437 loài của 271 giông trong 46 họ thuộc 7 bộ.

Động vật đặc hữu ở Vườn quốc gia Tam Đảo có 39 loài được phân làm 3 nhóm loài đặc hữu:

Nhóm loài đặc hữu hẹp chỉ có ở Vườn quốc gia Tam đảo gồm 11 loài: Bò sát (2loài): rắn sái, rắn ráo Thái dương…; ếch Nhái (1 loài): cá cóc Tam Đảo…; côn trùng 8 loài.

Nhóm đặc hữu miền Bắc Việt Nam có ở Vườn quốc gia Tam Đảo gồm 22 loài: Lớp chim (9 loài): gà tiền mặt vàng, gà so họng trắng, gà so trắng gụ, sếu xám, đuôi cụt đầu xám, đuôi cụt gáy xanh, cành cạnh nhỏ, hút mật ngực đỏ, hút mật Tam Đảo. Lớp bò sát (4 loài): thằn lằn eme Tam Đảo, thằn lằn phenô ba vạch, rắn lục đầu đen, rùa hợp trán vàng. Lớp lưỡng cư (3 loài): chàng mẫu sơn, chàng vạch, ếch gai sần. Côn trùng: 6 loài.

Nhóm những loài đặc hữu Việt Nam có ở Tam Đảo gồm 6 loài: Lớp chim (5 loài): cu xanh đuôi nhọn, phường chèo đỏ, đuôi dài, bông lan tai trắng, bách thanh nhỏ, chích chòe lửa. Lớp lưỡng cư (1 loài): ếch cây đế.

Những loài động vật quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam 1992 gặp ở Vườn quốc gia Tam Đảo gồm 56 loài (22 loài thú, 9 loài chim, 17 loài bò sát, 7 loài lưỡng cư, 1 loài côn trùng).

vườn quốc gia tam đảo

Các điểm phong cảnh

Thác Bạc nằm trong khu nghỉ mát rộng 10m, cao 40m, chảy từ núi Thiên Thị xuống.

Đền Bà Chúa Thương ngàn: Tháng 11 Âm lịch đồng bào dân tộc Dao thường đến đây làm lễ giỗ Bà, năm 1938 đền được trùng tu lại.

Tháp truyền hình có độ cao 100m đặt trên độ cao 1.000m, xây dựng từ năm 1978. Từ đền Bà Chúa Thượng ngàn leo 1.520 bậc đá theo sườn núi là tới cột tiếp sóng truyền hình.

Đỉnh Phù Nghĩa có độ cao 1.300m, từ khu nghỉ mát lên đến đỉnh núi mất 3 – 4 giờ, du khách có thể tham quan nghiên cứu Hệ sinh thái rừng lùn với tầng thảm mục 1m và các cây thuộc loại đỗ quyên thường nở hoa vào dịp tết Nguyên đán, cây có độ cao 1 – 1,5m.

Một số di tích lịch sử văn hoá nằm trong khu vực thị trấn Tam Đảo:

+ Đền Đức Thánh Trần Hưng Đạo được xây dựng năm 1938 ở độ cao 800m, thuộc địa phận thôn 2.

+ Đền Mẫu thờ nữ chúa Tam Đảo Năng Thị Tiêu, nằm sát ngay đường lên thị trấn Tam Đảo, gần lối rẽ lên đỉnh Phù Nghĩa.

+ Đền thờ Thạch kiếm (kiếm đá) trên độ cao 900m thuộc núi Mỏ Quạ.

+ Khu danh thắng Tây Thiên thuộc địa phận xã Đại Đình, huyện Tam Dương, có chiều dài 11km từ độ cao 54m đến 1.100m so với mực nước biển, có đền thờ nữ chúa Năng Thị Tiêu. Tục kể rằng bà là một trong 7 tiên nữ được Ngọc Hoàng phái xuống hạ giới để chữa bệnh trừ bạo nghịch, cứu độ chúng sinh. Sau khi giúp nước Văn Lang trừ giặc Ân, bà đã ở lại trần thế kết duyên cùng Hoàng tử Long Liên (con Vua Hùng thứ 6) đời sau được phong Tây Thiên Quốc Mẫu. Cách đền Tây Thiên 500m gần Thác Bạc là động Sách Hoa, tương truyền đây là nơi ở của Lăng Thị Tiêu, gần bên là chòi ông Nhất, một cơ sở bí mật của Đảng trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Đi theo hướng tây khoảng 1km có chùa Đồng Cổ, trong chùa có 2 pho tượng đồng cổ. Năm 1991 khu danh thắng Tây Thiên đã được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hoá, Hiện nay, tại khu vực này, ngôi thiền viện thứ hai của phái thiền Trúc Lâm đã được khởi công xây dựng, dự kiến sẽ khánh thành vào cuối năm 2005.

Điểm du lịch Tam Đảo đã được người Pháp xây dựng thành điểm nghỉ mát từ năm 1927 gồm: hệ thống đường giao thông, bể bơi, nhà thờ, chợ, cùng hàng trăm biệt thự.

Đến nay, Tam Đảo vẫn là điểm tham quan nghỉ dưỡng lý tưởng vì phong cảnh đẹp, khí hậu trong lành, mát mẻ. Hệ thống nhà hàng, khách sạn ở đây đã được quy hoạch, xây dựng để phục vụ nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng của du khách và các vận động viên thể thao về đây tập luyện.

Điểm du lịch Đầm Vạc

Nằm ở trong thị xã Vĩnh Yên, có diện tích mặt nước là 500ha. Được gọi là “Hồ Tây” của Vĩnh Phúc, tạo nên vẻ đẹp thơ mộng cho thị xã trung du. Rải rác quanh hồ là những cơ sở nghỉ dưỡng. Khu du lịch này hiện đã được tỉnh Vĩnh Phúc quy hoạch,dự kiến xây dựng có quy mô lớn, bao gồm sân golf, khu vui chơi giải trí, hệ thống nhà nghỉ, khách sạn có chất lượng cao.


Điểm du lịch Vườn quốc gia lịch sử – văn hóa sinh thái đền Hùng (Phú Thọ)

Điểm du lịch, sinh thối đền Hùng nằm trên ngọn núi Nghĩa Lĩnh thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, nằm cách Hà Nội khoảng 94km theo quốc lộ 2.

Theo quy hoạch được Chính phủ phê duyệt năm 2004, khu du lịch lịch sử – văn hoá – sinh thái có diện tích là 1.605ha, chia làm 3 khu vực chính: khu vực 1 có diện tích là 32 ha, khu vực 2 có diện tích là 253 ha, khu vực 3 là phần còn lại.

Điểm du lịch đền Hùng có cảnh quan kỳ vĩ, thơ mộng, hình thế và vị trí phong thuỷ đẹp, có hàng trăm quả đồi, ngọn núi chầu về. Từ đây du khách có thể quan sát thấy phía trước xa xa là núi Ba Vì, ngã ba Việt Trì – nơi gặp nhau của sông Hồng, sông Lô, phía đông là dãy núi Tam Đảo.

Ngọn núi Nghĩa Lĩnh có độ cao 175m, cao nhất trong 3 ngọn núi ở đây, có lịch sử kiến tạo co, đỉnh bằng, sườn thoải, thuận lợi cho việc cư trú sinh sống của người Việt cổ.

Khí hậu và nguồn nước

Ở đây có nhiệt độ trung bình năm từ 22 – 23ºC, độ ẩm trên 80%. Do có nhiều rừng cây nguyên sinh nên khí hậu ở đây mát mẻ, thích hợp với sức khoẻ của con người.

Lượng nước ở đây khá phong phú do có nguồn nước ngầm dồi dào và nhiều hồ nước như hồ Lạc Long Quân diện tích 3ha, hồ Khuôn Muôi diện tích 8 ha, hồ Gò Cong diện tích 1, 8 ha vừa tạo cảnh quan đẹp, vừa là nguồn cung cấp nước lại có thể phát triển loại hình du lịch vui chơi, giải trí.

Tài nguyên sinh vật

Điểm du lịch Đền Hùng có Hệ sinh thái rừng lá rộng kín mưa mùa thường xanh, có tới 548 loài thực vật, trong đó có nhiều loài cây quý như chò nâu (cao từ 25 – 30m), kim giao. Hệ thực vật ở đây thuộc 328 chi, 131 họ, có tới 11 loài được ghi vào Sách đỏ Việt Nam, 204 loại có tác dụng làm thuốc.

Ngoài Hệ sinh thái rừng tự nhiên, ở đây còn có Hệ sinh thái nhân văn như các cánh rừng thông, bạch đàn, đa, gạo, si, các loại cây ăn quả, chè, cọ…

Trong quy hoạch Điểm du lịch Đền Hùng có một khư vực rộng hàng chục ha, dành cho các tỉnh trồng cây, để tỏ lòng tôn kính tổ tiên, uống nước nhớ nguồn.

Tài nguyên nhân văn

Đền Hùng là nơi thờ các Vua Hùng, tổ tiên chung của dân tộc Việt Năm, nơi đây còn lưu giữ nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể. Các nhà khảo cổ học đã tiến hành khai quật và tìm thấy hàng trăm di vật đồ đồng, đặc biệt là trống đồng với số lương lớn, nhiều kích cỡ, kiểu loại.

Khu di tích đền Hùng gồm có 4 đền, 1 chùa và lăng mộ Vua Hùng, cổng vào đền.

+ Cổng đền được xây dựng lại vào năm 1917 do bà Phan Thị Thịnh công đức xây dựng, có các câu đối ca ngợi công đức các Vua Hùng.

+ Đền Hạ: đền hiện nay được xây dựng lại vào thời Lê thế kỷ XVII, được làm thành 2 nếp, kiểu chữ Nhị(二)

+ Đền Trung: đền được xây dựng sớm nhất trên núi Hùng, kiến trúc ban đẩu thuộc thời Trần (thế kỷ XIII). Thế kỷ XV, đền bị giặc Minh tàn phá. Đến thời Lê đền được xây dựng lại và được gọi là đền Trung.

+ Đền Trung: là nơi tương truyền các Vua Hùng họp bàn việc nước cùng với các Lạc hầu, Lạc tướng. Đây cũng là nơi diễn ra cuộc thi dâng cúng lễ vật để chọn người kế ngôi Vua. Chàng Lang Liêu là con trai út do hiếu thảo, thương dân nên đã làm bánh chưng, bánh dày để dâng vua cha, đơn giản nhưng đầy ý nghĩa và được kế ngôi vua.

+ Đền Thượng và lăng mộ Vua Hùng: Núi Nghĩa Lĩnh tương truyền là nơi các vua Hùng làm lễ tế trời, thờ thần Lúa và các vị thần thiên nhiên. Đền nay có tên chữ “Kinh Thiên Lĩnh Điện”; “Cửu Trung Tiên Điện”. Ngôi đền được trùng tu nhiều lần, trong đền có bia Ngọc Phả do Hàn lâm viện trực học sĩ Nguyễn Cốsoạn năm hồng Đức thứ III (1472).

Sáng ngày 19 – 9 – 1954 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm đền Thượng, thắp hương viếng Tổ, xem bài minh bia ở quả chuông treo trên cây đại trước sân đền. Tại đây Người đã gặp gỡ và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên phong. Câu nói “Các Vua Hùng đâ có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước” đã đi vào tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam. Ngày 19 – 8 – 1962, Bác về thăm Đền Hùng lần thứ 2 và nghỉ lại ngách cửa phía đông nam của đền Thượng.

Phía bên trái đền Thượng tương truyền có lăng vua Hùng thứ 6.

+ Đền Giếng: đền được dựng lại vào thế kỷ XVIII, năm Khải Định thứ VII. Đền có 3 nếp nhà và hai oản hai bên. Nơi đây thờ công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa, bên trong có giếng Ngọc, tương truyền là nơi các cô soi bóng để chải tóc, vấn khăn.

+ Đền Hùng – Phong Châu – Phú Thọ: là nơi phát tích của người Việt, nơi giữ gìn văn hoá và lịch sử dân tộc. Nơi đây còn có bảo tàng Hùng Vương với diện tích mặt bằng gần 1.000m2, được khởi công vào năm 1986 và khánh thành vào năm 1993. Bảo tàng ở đây lưu giữ khoảng 3.000 hiện vật liên quan đến thời các Vua Hùng tìm thấy ở Phú Thọ và Vĩnh Phúc.

Lễ hội đền Hùng hằng năm được tổ chức long trọng, đây là lễ hội có quy mô lớn nhất cả nước. Lễ hội chính diễn ra từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch, nhưng di tích Đền Hùng trong suốt cả năm vẫn thu hút đông đảo đồng bào trong cả nước và du khách đến tham quan, nghiên cứu, thắp hương tưởng nhớ, tôn kính những vị thủy tổ của nước Việt.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN