Điểm tham quan Chùa Dâu – Bắc Ninh

0
1751

 

Lịch sử phát triển Phật giáo vùng Dâu

Từ Hà Nội, xuôi theo quốc lộ 5 đến km 15 rẽ trái sang đường 182 (nay là đường 28) qua Sủi, Keo (Gia Lâm, Hà Nội) chừng 10km là tới Dâu. Hoặc có thể từ thị xã Bắc Ninh theo quốc lộ 338 chừng 10km, vượt sông Đuống tại cầu Hồ sang đất Thuận Thành, theo đường 18 đến ngã tư Đông Côi, ngược theo quốc lộ 282 khoảng 4km là về tới Dâu.

Miền Dâu – Liên Lâu hoặc Luy Lâu – Thuận Thành ngày nay nằm gần trung tâm châu thổ Bắc Bộ, Căn cứ vào nhiều nguồn tài liệu, hầu hết các nhà nghiên cứu lịch sử đều cho rằng đến đầu Công nguyên, Luy Lâu đã là một trong ba trung tâm Phật giáo lớn trong đế chế Trung Hoa là Luy Lâu, Lạc Dương và Bành Thành.

Miền Dâu với những điều kiện về tự nhiên, kinh tế, xã hội hết sức thuận lợi nên sớm trở thành một trung tâm thương mại sầm uất mang tầm cỡ quốc tế. Nơi đây là chốn đô hội, thủ phủ của quận Giao Chỉ và Châu Giao, trung tâm giao lưu kinh tế, văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo của nước ta những thế kỷ sau Công nguyên với các nước trong vùng. Trung tâm Phật giáo Dâu được hình thành trong bối cảnh đó.

Vào đầu Công nguyên, các tăng sĩ Ấn Độ, Trung Quốc, Trung Á…đã đến Dâu truyền đạo, giảng kinh, nghiên cứu Phật pháp, tiêu biểu trong số đó là nhà sư Khâu Đa La. Sơn môn Dâu được thành lập và là trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất của nước ta. Theo tài liệu cổ “Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh” thì các bộ kinh như “Bát Thiên Tụng Bát Nhã”, “Pháp Hoa Tam muội” là những bộ kinh xuất hiện sớm nhất trong văn hệ Bát Nhã, đã được các tăng sĩ nghiên cứu và biên dịch tại chùa Dâu. Cũng theo sách này, cùng với “Thiên Uyển Tập Anh” thì từ thế kỷ VI đến XI, Dâu là trung tâm của thiền phái thứ nhất của nước ta: Thiền phái Tiniđalưuchi với 19 thế hệ 31 cao tăng. Tiniđalưuchi là người Ấn Độ đến chùa Dâu vào tháng III năm Canh Tý (580) và ở lại đây cho đến năm Giáp Dần thì viên tịch. Pháp Hiền – vị Thiên sư Việt Nam trong số những vị sư trụ trì tại chùa được Tiniđalưuchi truyền tâm ấn.

Từ thế kỷ VI – VII, Dâu vẫn là trung tâm Phật giáo lớn nằm trong đế chế của nhà Tuỳ. Từ nửa thế kỷ IX trở đi, Luy Lâu không còn giữ vai trò trung tâm chính trị của đất nước, song vẫn là một trung tâm Phật giáo lớn. Chùa Dâu vẫn thu hút vua quan các triều Lý, Trần, Lê cùng nhân dân khắp nơi thường xuyên về lễ Phật, dự hội, cầu đảo, vãn cảnh.

Theo thời gian, Dâu đã trở thành khu di tích lịch sử, văn hóa đặc sắc và phong phú bậc nhất của Bắc Ninh, với các hạng mục công trình kiến trúc cổ nổi tiếng được Nhà Nước công nhận. Thành Luy Lâu, đền Sỹ Nhiếp, các di tích kiến trúc cổ, dòng sông Dâu xưa còn đó, hệ thống chùa tháp, đền miếu, lăng mộ… làm chứng tích cho một thời kỳ huy hoàng trong lịch sử nước ta.

Dù ai đi đâu về đâu

Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về

Dù ai buôn bán trăm nghề

Nhớ ngày mồng Tám thì về hội Dâu

(Ca dao cổ)

Chùa Dâu xưa còn có các tên chữ là “Cổ Châu Tự”, “Thiền Định Tự”, tên chữ ngày nay là “Diên Ứng Tự”.Tên phổ biến vẫn được gọi là chùa Pháp Vân theo tên vị Phật được thờ ở chùa, còn chùa Dâu là theo tên địa phương. Chùa thuộc làng Khương Tự, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành.Chùa Dâu

Chùa Dâu là ngôi chùa có lịch sử hình thành và phát triển cổ nhất trong số các ngôi chùa còn lại ở nước ta hiện nay. Chùa được xây dựng vào thế kỷ thứ III sau Công nguyên, gắn liền với lịch sử du nhập đạo Phật và vùng Dâu, thời kỳ Thái thú Sỹ Nhiếp sang làm quan cai trị nước ta. Chùa được coi như trung tâm Phật giáo vùng Dâu. Chùa được trùng tu lớn nhiều lần vào thời Lê (1737 – 1738), thời Tây Sơn (1792 – 1793), thời Nguyễn (đầu thế kỷ XIX – đầu thế kỷ thứ XX), đặc biệt vào thời Trần đầu thế kỷ thứ XIV do Mạc Đĩnh Chi hưng công và trông nom việc trùng tu.

Không kể khu vực nhà tổ, tăng phòng và những dãy nhà thuộc sinh hoạt của người ở chùa, chùa chính có bố cục kiểu ” nội Công, ngoại Quốc” gồm tiền đường, thiêu hương, thượng điện, hai bên là hai dãy hành lang, phía trước dãy ngang 9 gian, giữa sân là tháp Hòa Phong.

Sân chùa lát gạch, giữa sân là một cây tháp lớn chân hình vuông, mỗi cạnh dài hơn 3m, dày khoảng 0,55m, gạch mộc chính già như sành, màu sẫm. Dân gian truyền rằng tháp này do Mạc Đĩnh Chi xây dựng lại, cao 9 tầng. Vì tháp quá cao, lại chịu tác động của thời gian, mưa nắng nên đã bị đổ, nay tháp chỉ còn lại 3 tầng, cao khoảng 17m. Mặc dù mặt tháp không trang trí hoa văn nhưng giá trị kiến trúc mỹ thuật được thể hiện ở hình khối, màu gạch và mạch vữa, có mối quan hệ với kiến trúc chùa tháp của Ấn Độ trong buổi đầu dựng chùa. Tầng chân tháp như một tòa nhà rộng, bốn mặt đêu có cửa xây vòm cuốn. Trên mặt trước của tầng hai có gắn biển đá “Hòa phong tháp được khắc vào mùa thu năm 1737. Trong lòng tháp treo một quả chuông lớn bằng đồng đúc năm 1793 và chiếc khánh đồng đúc năm 1817. Tháp Hòa Phong là một biểu tượng thể hiện sự giao thoa văn hóa và tín ngưỡng bản địa giữa Việt nam và Ấn Độ.

Lan can bậc cửa trước của tháp chạm thành khối tượng tròn, mỗi bên có một con sóc nằm phục theo dáng bò từ trên xuống. Tượng sóc có hình khối hơi thô, cổ đeo lục lặc, mặt ngửa, mắt tròn, mũi sư tử, miệng hơi mở, râu từ tai mọc vòng qua cằm, chân bốn ngón dài chụm, đuôi tạc lục lăng lượn sóng ba nếp. Tất cả những chi tiết tạo hình xác định rõ ràng đôi sóc này là sản phẩm nghệ thuật của thời Trần. Bên phải cửa trước có tấm bia ghi lại việc xay dựng tháp và năm 1738. Bên trái có tượng một con cừu đá dài 1,33m, cao 0,88m. Tượng cừu được tạo bằng đá sa thạch biến chất, nằm gọn gàng trong khối chữ nhật, sừng cong, tai dài, có râu chải thẳng xuống, miệng ngậm, mũi bẹt mắt ti hi. Các chân quỳ gập lại, đầu gối khắc hình hoạ mà cảnh là những cung tụ lại một điểm ở nhụy hoa. Hình tượng nghệ thuật này rất hiếm trong nghệ thuật điêu khắc Việt Nam. Từ nghệ thuật điêu khắc cho tới chất liệu của tượng đã thể hiện sự giao thoa văn hoá giữa Việt Nam, Ấn Độ và Trung Hoa, mang dấu ấn của lịch sử phát triển vùng Dâu và thành cổ Luy Lâu.

Đi qua ba bậc đá ở cuối sân là nhà tiền đường. Những cấp bậc này chạy suốt năm gian giữa, ở gian chính giữa có hai thành bậc đá chạm rồng bò từ trên xuống. Chi tiết cấu tạo và nghệ thuật chạm khắc đều khẳng định cặp rồng này được ra đời vào cuối thời Trần.Chùa Dâu

Nhà tiền đường cấu trúc đơn giản, vì nóc theo khuôn tam giác, dài bảy gian lòng nhà rộng rãi. Trong nhà có một số cột chạm tứ linh và rồng hóa mây, thời gian khi làm nhà này từ ngày 9 tháng 9 đến ngày 15 tháng 11 năm Khải Định thứ III (năm 1918).

Nhà thiêu hương về mặt kiến trúc không có gì đặc sắc nhưng phía bên phải có một tấm bia cao 1,37m, rộng 0,94m dựng trên lưng một con rùa cao 0,37m Nôi dung tấm bia là những chiếu chỉ của nhà nước Lê – Trịnh và nhà Nguyễn ban cho dân xã Khương Tự quyền được trông nom chùa, được miễn thuế, binh hộ và sưu sai.

Liền mái với nhà thiêu hương nhưng cao hơn 0,47m là thượng điện ba gian, bốn mái, các góc mái gặp nhau thành đầu đao cong vút lên tựa bông sen, xoá đi cảm giác nặng nề của công trình. Cấu trúc nhà theo lối 4 hàng chân, tất cả có 16 cột, cột nào cũng khắc tên người cung tiến. Cột cái chu vi 1,6m. Các vì kèo cấu trúc lối chồng rường kết hợp với giá chiêng. Hai vì nóc rất đẹp con giữ nguyên kiến trúc và điêu khắc thời Trần. Vì nóc thượng điện do kết hợp với giá chiêng nên chồng giường đơn giản, ở giữa chiếc câu đầu lực lưỡng kế trên những chiếc đầu vuông ở đỉnh hai cột cái là giá chiêng, hai bên là con rường. Thân giá chiêng là những cột tròn, ngắn được chạm thành hình phỗng ngồi trên toà sen, đưa hai tay lên đỡ một toà sen khác. Giữa giá chiêng lồng một mảnh gỗ chạm vòng sáng nhọn đầu, trong vòng sáng có đôi rồng thời Trần.

Đây là các tác phẩm đẹp của các nghệ sĩ trang trí thời Trần còn lưu giữ lại đến ngày nay. Cánh gà ngoài cửa giữa cột cái và cột hiên có một mảng ván thời nhà Trần chạm dây hoa, còn lại đều là của thời Lê thuộc nửa cuốị thế kỷ XVII với hình rồng ổ mẹ con đùa giỡn nhau, những chiếc râu rồng vươn dài như mác dao, đây là hình tượng nghệ thuật mang đầy chất dân gian.

Bên trong thượng điện là những tượng Phật đa dạng, phong phú và đặc sắc chỉ có ở chùa Dâu, thể hiện sự giao thoa, hội nhập văn hoá giữa tôn giáo ngoại lai là Phật giáo với tín ngưỡng thờ các vị thần thiên nhiên. Theo truyền thuyết “Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh”, Phật Tứ Pháp được tạc từ cây dung thụ (tức cây dâu) ở chùa Linh Quang (Phật Tích) nơi trụ trì của sư Khâu Đà La. Chính sư đã dùng phép thuật để đặt con của Man Nương vào trong cây dung thụ. Sau đó mưa bão làm cho cây bị đổ, cây trôi theo dòng sông Dâu về Luy Lâu, được nhân dân vớt lên và tạc thành tượng Phật Tứ Pháp. Thạch Quang là hòn đá nằm trong cây dung thụ được đưa vào thờ ở chùa Dâu.

Tượng Pháp Vân tạc bằng gỗ đặt trên bệ toà sen, tất cả cao 2,85m, riêng tượng cao 1,85m. Tượng ở tư thế ngồi xếp bằng, đầu hơi nhô về phía trước, tay phải giơ cao, lòng bàn tay có viên ngọc. Tay trái đặt ngửa trên đùi, toàn thân tượng phủ lớp sơn bóng màu cánh dán, khoác áo màu đỏ toát lên sự linh thiêng, huyền bí, không giống như những tượng Phật ở các chùa khác. Những chi tiết về nữ tính được thể hiện rất rõ như cổ cao ba ngấn, mặt đầy đặn, lông mày rộng hình vòng cung. Phía trước tượng Pháp Vân là tượng Phật Thạch Quang đặt trong khám thờ bằng gỗ sơn son thiếp vàng. Đó là một khối đá hình ống, đầu tròn có nấc, đường kính đáy 24 cm, một phía cao 26 cm, một phía cao 23 cm.cac vi la han trong chua dau

Tuy truyền thuyết mang đầy màu sắc huyền thoại, nhưng các vị thần mây, mưa, sấm, chớp trong tín ngưỡng của cư dân trồng lúa nước vùng nhiệt đới Bắc Bộ Việt Nam đã chuyển thành Phật Tứ Pháp. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng của cư dân Việt Nam. Đó cũng là khát vọng bao đời của người nông dân mong sao cho mưa thuận gió hoà để nên nông nghiệp vốn phụ thuộc rất lớn vào thiên nhiên có thể sinh sôi nảy nở. Ngày Phật Đản (ngày sinh của Phật) trước đây mồng 8 tháng 4 cũng chính là ngày sinh của Phật Tứ Pháp. Ngày hội Dâu, tức hội tắm Phật, rước nước với những nghi lê phản ánh tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp vùng Dâu nói riêng và cư dân Bắc Bộ nói chung.

Chùa Dâu, với vị trí hết sức quan trọng của nó trong vùng Dâu từ đầu Công nguyên, với kiến trúc của một ngôi chùa cổ kính đã tạo cho mình một vai trò to lớn cũng như một tài nguyên du lịch vô giá. Chỉ đến thăm chùa Dâu một lần là du khách sẽ cảm nhận được bề dày văn hoá của một vùng Dâu được ghi dấu ấn rõ nét trong từng thớ gỗ, từng chi tiết kiến trúc ở chùa Dâu.

Chùa Dâu là ngôi chùa có lịch sử cổ nhất ở nước ta hiện nay, một viên ngọc quý vô giá minh chứng Phật giáo du nhập sớm từ những thế kỷ đầu Công nguyên vào nước ta.

Chùa Dâu còn là nơi giao thoa, hội nhập giữa văn hoá tín ngưỡng Việt Nam với văn hoá tín ngưỡng, kiến trúc Phật giáo từ Ấn Độ. Nơi đây còn lưu giữ nhiều giá trị kiến trúc nghệ thuật cổ kính vô giá, nhiều cổ vật có giá trị, là những tư liệu quý hấp dẫn du khách tham quan, nghiên cứu. Vì vậy, chùa Dâu đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá ngày 28-4- 1962.

Tuy nhiên, trải qua thời gian, sự huỷ hoại của tự nhiên, chiến tranh, nhiều hạng mục công trình của chùa Dâu đang bị xuống cấp nghiêm trọng. Thêm vào đó, do không được bảo vệ, quản lý chặt chẽ, nhiều cổ vật của chùa đã bị mất cắp. Năm 1997, bảy pho tượng quý của chùa đã bị đánh cắp.

Năm 2004 chùa Dâu đã được trùng tu lớn. Việc bảo vệ, phát huy giá trị lịch sử văn hoá của chùa Dâu theo hướng phát triển du lịch văn hoá là một việc làm cấp thiết, nhưng vẫn cần được tiến hành cẩn trọng và khoa học.

Bài viết liên quan

CHƯA CÓ BÌNH LUẬN NÀO