Chùa Bút Tháp – Bắc Ninh

Chùa Bút Tháp thuộc xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, còn tên chữ là “Ninh Phúc Thiên Tự”. Chùa Bút Tháp nằm cách chùa Dâu 3km. Tên chùa Bút Tháp mới có từ nửa sau thế kỷ XIX do vua Tự Đức đặt khi thấy cây tháp của chùa giống như ngọn bút đang đề thơ lên trời. Làng ở gần chùa cũng nhân tên chùa mà gọi là làng Bút Tháp.

Chùa Bút Tháp
Chùa Bút Tháp

Chùa Bút Tháp có kiến trúc hoà nhập với môi trường tự nhiên bao quanh. Nhìn tổng thể, chùa Bút Tháp nằm trong vùng đất của các con sông Dâu, sông Thiên Đức, sông Tương… là những con sông cổ nhưng nay đã bị bồi lấp gần hết. Đây cũng là nơi có những trung tâm Phật giáo suốt từ đâu Công nguyên đến đầu thời tự chủ.

Ngày nay, chùa Bút Tháp đã qua nhiều lần tu sửa, nhất là vào thế kỷ XX (1903 – 1904, 1937, 1940, 1947, 1958, 1977, 1990, 1992 – 1993). Trong đó, theo bia “Trùng Tu Ninh Phúc Tự bi ký” dựng năm 1904 thì lúc này “cổ tích danh lam đã bị đổ nát”, việc sửa chữa trong năm tháng thì xong. Với thời gian ấy, cũng như những lần sửa chữa sau, hẳn chỉ là trùng tu nhỏ, không làm biến dạng mẫu hình chùa xưa thuộc thế kỷ XVII.

Chùa Bút Tháp là một ngôi chùa độc đáo
Chùa Bút Tháp là một ngôi chùa độc đáo

Chùa Bút Tháp là một ngôi chùa độc đáo, có bố cục gọn gàng, chặt chẽ và rất sinh động. Việc xây dựng dựa vào các vật liệu bền chắc và đã kế thừa những nét kiến trúc truyển thống dân tộc từ thời đại Lý – Trần trước đó. Các đơn nguyên kiến trúc được bố trí cân xứng, chặt chẽ ở khu trung tâm, nhưng lại rất tự nhiên ở khu vực xung quanh. Cụm kiến trúc trung tâm ở chùa Bút Tháp bao gồm 9 đơn nguyên chạy song hàng, được bố trí đăng đối trên một đường “linh đạo”,  và được bao bọc bởi hai dãy hành lang chạy suốt dọc hai bên chùa. Đó là toa tiền đường, nhà thiêu hương, thượng điện, cầu đá, toà tích thiện am, trung đường, phủ thờ, nhà hậu đường và hàng tháp đá sau nhà hậu đường. Lối bố trí đăng đối theo trục chính và phong phú về xử lý các khối kiến trúc của công trình đã tạo nên vẻ thâm nghiêm, u tịch và thanh thoát cho cảnh chùa.

Mở đầu là tam quan ba gian, hai mái, tường hồi bít dốc, nhưng hai gian bên đã xây tường chắn cả trước và sau. Sau một khoảng cách khá xa đến gác chuông hai tầng tám mái, nền vuông, một gian hai dĩ, tám hoa đua rất bay, toàn khối kiến trúc như bông sen khổng lồ. Gác chuông chia làm hai không gian, tầng trên để thông thoáng chỉ có lan can, tầng dưới các góc thuộc dĩ xây tường. Trong gác chuông, treo quả chuông cao tới 152cm thuộc loại số ít những quả chuông hiện còn, đúc năm Gia Long 14 (1815). Gác chuông từ nên đến nóc cao chừng 8m, nếu kể cả nền và con kìm cao hơn 9m.

Gác chuông Chùa Bút Tháp
Gác chuông Chùa Bút Tháp

Tiếp đến là khu vực chính của chùa có nhà vây bọc xung quanh thành hình chữ “Quốc”, bao gồm nhà đại bái, thiêu hương phía trước, hậu đường phía sau, hành lang hai bên, nối vào hành lang mỗi bên có một nhà bia, trong dựng tấm bia lớn tạo năm Phúc Thái thứ 5 (1647). Cạnh nhà bia và cũng là hai đầu nhà đại bái, môi bên có một cổng phụ.

Qua cổng, một bên là hành lang 27 gian, một bên là đầu hồi các nếp nhà dựng trên đường trục của chùa: tiền đường, thiêu hương, thượng điện, Tích Thiện am, nhà trung, phủ thờ, sau cùng là hậu đường chạy suốt mặt hậu chùa. Ba nếp gian đầu gắn liền với nhau tạo thành một cụm hình chữ “Công”, các nếp nhà sau đổ tách riêng ra, song hành cách nhau bằng khoảng sân hẹp. Vì thế, chùa Bút Tháp được cải tiến từ kiểu “nội Công, ngoại Quốc”, đưa thêm cả nét ngang nữa vào đằng sau. Những nếp nhà này là một dạng đặc biệt của loại “chùa trăm gian”. Tất cả các nếp nhà dàn ngang từ tiền đường đến phủ thờ đều xòe mái về bốn phía, có các hoa đao ở góc mái, tất cả những chi tiết đó làm cho kiến trúc bớt vẻ nặng nề tạo sự thanh thoát, bay bổng.

Các tháp chính ở vòng ngoài Chùa Bút Tháp
Các tháp chính ở vòng ngoài Chùa Bút Tháp

Các tháp chính ở vòng ngoài cũng tuân thủ triệt để nguyên tắc đăng đối: phía sau chùa là tháp Tôn Đức nằm trên đường trục, bằng đá ghép, bình diện vuông, năm tầng, cao chừng 10, 5m là điểm cuổì đưa nhịp điệu kiến trúc hoà vào sự bay bổng lên không trung, hai bên có hai tháp đá khác, cùng hàng ngang, nhưng nhỏ hơn, vẫn giữ khoảng cách đều. Hai bên sưòn chùa, từ giữa hồi nhà trung kéo ra, bên trái có tháp đá Báo Nghiêm, bình diện bát giát, năm tầng, cao chừng 13m, là điểm cao nhất để tôn xưng hoà thượng mở đầu cho hệ thống tổ chùa ở đây, đôi lại phía sườn chùa bên phải cũng có một tháp khá cao, nhưng bình diện vuông và xây bằng gạch.

Sườn trái của khu vực chính là vườn chùa, ở đây xây tách ra một kiến trúc phụ là nhà tổ năm gian, phía trước tháp Báo Nghiêm. Trước nhà tổ là ruộng trồng hoa cúng, ở bờ ruộng bên phải có cái giếng mà miệng giếng được tạc hình hoa sen, như là yêu tố âm để tôn chiều cao của tháp.


Phủ thờ
Phủ thờ

Phủ thờ thực chất là nhà thờ hậu Phật, thờ những người đã cúng nhiều tiền cho việc xây dựng chùa, Nơi đây có thờ ông hoàng Lê Đình Tứ, Hoàng thái hậu Trinh Thị Ngọc Trúc, công chúa Lê Thị Ngọc Duyên và quận chúa Trịnh Thi Ngọc Cơ.

Hậu đường dài tới 13 gian, ngoài tăng phòng, ở đây thờ đạo Mẫu, có đủ tam toà Thánh Mẫu với tứ phủ và tứ vị ở hai bên. Đây có thờ các tổ chùa, như ba vị sư khởi thuỷ là Chuyết Chuyết, Minh Hành và Minh Lương thì được thờ riêng ở nhà tổ bên cạnh chùa.

Cầu đá Chùa Bút Tháp
Cầu đá Chùa Bút Tháp

Trong kiến trúc cũng như trang trí ở chùa Bút Tháp, ta không thể không nói tới các yếu tố của hai nền văn hoá Việt – Hoa. Tuy nhiên, các yếu tố này đã được Việt hoá một cách tài tình khiến cho chúng hoà nhập nhuần nhuyễn với văn hoá Việt, tạo một phong cách độc đáo của chùa Bút Tháp. Sự ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa thể hiện rõ nét nhất là ở cầu đá và tháp Báo Nghiêm. Cầu được tạo dáng cong vồng lên một cách bất bình thường so với một số cây cầu khác của người Việt. Đường thông thuỷ phía được xây thèo hình vòm cuốn bằng đá hình múi bưởi, đó là kỹ thuật xây cầu của Trung Hoa. Mảng kiến trúc ở phần cuối của lan can hai bên thành cầu hoàn toàn giống với bộ phận có chức năng tương tự ở cổng đi vào Đạt Ma Động trong Thiếu Lâm Tự (Trung Hoa). Nếu đi sâu vào chi tiết ở tháp đá Bảo Nghiêm, ta sẽ thấy tầng một của tháp là một chiếc “đỉnh” bát giác với các bộ phận kiên trúc đặc trưng cho kiến trúc Trung Hoa hay hai con rồng cuộn quanh cột trước cửa tháp mang phong cách rồng thời Minh ở Trung Quốc, những lực sĩ đang oằn vai đỡ mái tháp và những cảnh trang trí ở lan can vây quanh tháp.

Chùa Bút Tháp còn có một hệ thống tượng tròn rất đặc sắc so với những ngôi chùa khác. Có ba loại chính: tượng Phật giáo, tượng chân dung (gồm tượng các vị tổ chùa và tượng hậu chùa) và tượng thờ Mẫu.

Tượng Phật giáo ở đây có nhiều loại; tượng Phật, tượng các vị Bồ tát, tượng Hộ pháp, tượng Thập điện, tượng các vị La Hán, Tổ Huyền Đăng. Trong đo có những pho rất quý, nổi tiếng, độc nhất vô nhị và được coi là khuôn mẫu của tượng Phật giáo Việt Nam. Nổi trội hơn cả là tác phẩm Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay. Đó là một bức tượng gọn gàng, chặt chẽ trong một khối cao 3,7m, chỗ rộng nhất 2, 1m và dày 1,15m. Phật Bà Quan Âm ngồi hành đạo ung dung, thư thái. Khuôn mặt hơi bầu, măt sáng, niiệng nhỏ thanh với đôi môi mọng khép lại nghiêm mà vui, đôn hậu. Tất cả đều toát lên vẻ đẹp hiền lành và đức độ. Toàn thân nghiêm túc, yên lặng nhưng vẫn nhận thấy sự vận động nội tại sôi nổi.

Tượng chân dung ở chùa Bút Tháp rất đáng được quan tâm gồm tượng to chùa và tượng hậu Phật. Tượng hậu Phật thực sự nở rộ vào thế kỷ XVII và điển hình là ở chùa Bút Tháp. Với trình độ tay nghề bậc thầy, các nghẹ nhân đã khắc hoạ nên những nét tính cách hết sức rõ rệt đặc trưng cho từng ngươi. Bà công chúa Lê Thị Ngọc Duyên, bà quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ được đồng nhất với Quan Âm Bồ tát như muốn nói tới đức hạnh từ bi của họ. Mặc dù vậy, khuôn mặt các vị vẫn toát lên vẻ cao sang quyền quý và có phần xa cách. Với truyền thống tạc tượng “sống hơn giống”, các pho tượng này mang đầy sức sống của những con người thực một cách sinh động. Các pho tượng tô chùa ở đây cũng được tạo tác theo phong cách đó và được phát huy trong những thế kỷ sau.

Trang trí ở chùa Bút Tháp hết sức nổi bật trên hai loại chất liệu là gỗ và đá được thể hiện ở trên các chi tiết kiến trúc cũng như trên đồ thờ. Trên các chi tiết kiến trúc gỗ, các mảng chạm mang thuần phong cách truyền thống Việt, những con rồng của thời Lê Trung Hưng có niên đại vào khoảng giữa và cuối thế kỷ XVII được chạm rất tinh xảo, ở nhiều bẩy, thay cho rồng là những đao mác và vặn xoắn, nó như biểu tượng của chớp được nghệ thuật hoa. Trong kiến trúc này, một trọng tâm trang trí đã được đặt vào xà ngưõng, chủ yếu với các đề tài hoa cúc cách điệu, những bông hoa mãn khai thường toa ra những đao mác như là biểu tượng của nguồn phát sáng, Cũng có những chi tiết như trên một chiếc thót đáy chỉ có một văn dấu hỏi, hai bên có đao mác toa ra, phải chăng đó là biểu tượng về lực lượng thiên nhiên gắn với nông nghiệp được kế thừa từ thời Lý qua thời Mạc? Cũng trên xà ngưỡng này, ta thấy hai con hươu và lần đầu tiên hình ảnh hai con rùa được chạm trên gỗ, ý nghĩa của mảng chạm này như một biểu hiện của “âm dương đối đãi”. Chùa Bút Tháp còn nhiều nhang án và khám thờ, mà nét chạm khắc liên quan được thể hiện một cách hết sức tinh xảo dưới các dạng nổi chìm, bong kênh, thủng…Các mảng chạm khắc ở đây như một sự thao diễn kỹ thuật để đẩy các đề tài đạt tới những chỉnh thể tương ứng với đời sông tâm linh.

Ông cha ta đã thổi hồn vào ngôi chùa Bút Tháp qua các thời kỳ từ lúc dựng chùa tới các lần trùng tu sau này. Đến thăm chùa Bút Tháp ta được cảm nhận tinh thần từ bi hỉ xả của đạo Phật, để thưởng thức những tác phẩm điêu khắc, kiến trúc, để hiểu thêm về phong cách nghệ thuật một thời và để cảm nhận niềm tự hào về tài nghệ của cha ông. Chùa Bút Tháp với những giá trị lớn lao về mọi mặt, được bảo tồn khá nguyên vẹn, được coi là bảo tàng kiến trúc mỹ thuật Phật giáo thời Lê, là một điểm tham quan lý tưởng đối với du khách trong và ngoài nước.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN