Điểm du lịch Phố Hiến – Hưng Yên

Hưng Yên là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Bắc. Có diện tích 889km2, số dân là 1.120,3 nghìn người (năm 2004). Tỉnh lỵ là thị xã Hưng Yên. Tỉnh nằm ở cửa ngõ phía đông của Thủ đô Hà Nội và giáp với các tỉnh, thành là Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hà Tây. Tỉnh có các điểm tham quan du lịch hấp dẫn du khách ở Phố Hiến và huyện Khoái Châu.

Theo thống kê của bảo tàng tỉnh Hưng Yên, trong phạm vi chiều dài 5km, chiều rộng 1km được xác định từ Đằng Châu (xã Lam Sơn, thỉ xã Hưng Yên) đến Lễ Châu (xã hồng Châu, huyện Phù Tiên xưa, nay thuộc thị xã Hưng Yên) Phố Hiến cổ còn lưu giữ khoảng 60 di tích lịch sử văn hoá các loại. Trong đó có nhiều di tích có giá trị cao về lịch sử, kiến trúc mỹ thuật, tín ngưỡng, có khả năng hấp dẫn du khách như đền Trần, đền Thiên Hậu, đền Mẫu, chùa Chuông, chùa Hiên, Văn miếu, Võ miếu, đình Hiến, nhà thờ Họ, nhà thờ Thiên chúa giáo…(có tới 11 di tích được xếp hạng cấp quốc gia).

Tự nhiên và kinh tế – xã hội là những yếu tố để phát triển và nuôi dưỡng những giá trị văn hoá. Do vậy, phần lớn các di tích lịch sử văn hoá có giá trị ở Phố Hiến đều được tạo dựng và trùng tu lớn vào thời kỳ Phố Hiến thịnh vượng (thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII) . Các di tích này lại phân bố tập trung thuận lợi cho việc tổ chức các loại hình du lịch văn hoá.

Bảng thống kê các di tích lịch sử văn hoá ở thị xã Hưng Yên đến năm 2000 :

Đền và đình

Đền là một loại hình kiến trúc mỹ thuật phổ biến, chiếm 1/3 số di tích ở thị xã Hưng Yên, tập trung chủ yếu ở khu vực Phố Hiến cổ. Do đặc điểm lịch sử hình thành và phát triển của mảnh đất này, dân cư sống chủ yếu nhờ vào nghề sông nước, nên thần điện có sự xuất hiện của các nữ thần hàng hải và những người có công với nước được người dân tôn thờ. Đền cũng là loại hình kiến trúc có lịch sử hình thành sớm nhất so với các di tích lịch sử văn hoá ở đây.

Một số ngôi đền tiêu biểu:

Đền Mẫu

Đền nằm trên đường Bãi Sậy phường 22, thị xã Hưng Yên. Đền thờ thánh mẫu Hoa Dương (Dương Quý Phi). Có nguồn gốc là quý phi của vua Tống (Trung Quốc) để giữ trinh tiết và phò nhà Tống đã lánh nạn sang Việt Nam và gặp nạn nên rất linh hiển.

Hiện nay đền còn lưu giữ nhiều cổ vật quý như 100 que thẻ bằng gỗ, có từ 400 năm trước mỗi quẻ có 4 câu thơ chữ Hán; 2 chiếc lọ độc bình bằng men rạn được sản xuất tại Bát Tràng, có niên đại khoảng 500 năm là tư liệu quý để nghiên cứu về lịch sử và nghệ thuật gốm sứ của nước ta. Ngoài ra đền còn lưu giữ nhiều đồ tế tự, hương án, kiệu rước, tượng thờ có giá trị.

Trong sân đền còn có cây đa cổ thụ hơn 700 năm tuổi được các nhà khoa học đánh giá là cây đa nhiều tuổi và đẹp nhất nước ta hiện nay.

Đền đã được đón tiếp nhiều vị nguyên thủ quốc gia, nhiều vị chính khách các nước tới thăm, và được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá quốc gia năm 1999. Đền đã được Nhà nước, nhân dân, chính quyền địa phương bảo vệ, trùng tu tôn tạo khá nguyên vẹn, khang trang, uy nghiêm.

Đền Mẫu Phố Hiến
Đền Mẫu Phố Hiến

Đền Trần

Đền thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, toạ lạc gần đền Mẫu, tại phường Lê Lợi, thị xã Hưng Yên.

Đền được xây dựng từ thế kỷ thứ XIII để nhớ ơn Hưng Đạo Vương khi đánh quân Nguyên lần thứ 2 có ghé vào đây. Sau đó đền được trùng tu nhiều lần, những lần gần đây nhất vào năm 1863 và năm 2000.

Đền được bố trí thành 3 bộ phận tam quan, sân và chính điện.

Phần chính điện có kiểu kiến trúc chữ “Tam”, gồm 5 gian đại bái, 5 gian trưng từ và 3 gian hậu cung.

Trong đền hiện nay còn lưu giữ nhiều cổ vật cổ giá trị văn hoá nghệ thuật như bi ký, các sắc phong, bình hương bằng gôm thời Trần, khám thờ, ngai thờ, hương án, các bức câu đối đại tự, tất cả đều được điêu khắc tinh xảo, sơn son thiếp vàng lộng lẫy.

Đền Trần được khách thập phương và nhân dân công đức trùng tu, giữ gìn khá nguyên vẹn và thâm nghiêm.

Đền Thiên Hậu

Đền được toạ lạc ở phố Bắc Hoà, phương Lê Lợi, thị xã Hưng Yên. Đền được xây dựng dựng vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Đền là nơi thờ Thiên Hậu thánh mẫu, vi thánh cứu khổ, cứu nạn luôn giúp người dân đi biển Trung Quốc và là vị thần hộ mệnh của họ.

Đền được kiến trúc theo kiểu “nội từ, ngoại tế”. Đồ thờ, vật liệu xây dựng, phần lớn đều được mua từ Trung Hoa chở sang. Thần điện thờ và những giá trị kiến trúc mỹ thuật đều mang đậm nét văn hoá Trung Hoa.

Bố cục của đền gồm tam quan có quy mô uy nghi, cao rộng, phía trong có 2 con nghê bằng đá, linh vật thờ của người Trung Hoa.

Gian tiền sảnh có 4 gian kết cấu theo kiểu chồng rường giả thủ, trang trí hoạ tiết tứ quý, rồng.

Khu đền chính được xây dựng theo kiểu chữ Đinh (丁), nơi lưu giữ những đồ tế tự, hương án thờ, tương thờ, mang giá trị văn hoá nổi tiếng Trung Hoa.


Đền Mây

Đền là nơi thờ tướng quân Phạm Phòng Át, một vị tướng thời Ngô Quyền, chủ soái của một trong 12 sứ quân thời Đinh Bộ Lĩnh. Ngoài ra nơi đây còn thờ mẹ và con trai ngài.

Ngôi đền được khởi dựng sớm ở Phố Hiến từ thời Hiến Nam Trang, vào đầu thế ky XI. Đền được trùng tu nhiều lần, lần cuối vào năm 1890. Đền được xây dựng theo lối kiến trúc chữ Đinh (丁) gồm tiền tế, trung từ và hậu cung. Tam quan của đền là công trình kiến trúc có giá trị, theo kiểu chồng diềm, các mái uốn cong mềm mại.

Hiện đền còn giữ nhiều cổ vật có niên đại thời Nguyễn như các bức hoành phi lớn, các ngai thờ tượng Phạm Phòng Át, các bài vị.

Đình Hiến

Phố Hiến hiện còn lưu giữ 7 ngôi đình, có nhiều cổ vật như đồ tế tự, hương án, bài vị, sắc phong nhưng đều chỉ có niên đại thời Nguyễn. Trong đó tiêu biểu là đình Hiến.

Đình Hiến toạ lạc ở thôn Mậu Dương, xã Hồng Châu, ven sông Hồng, thị xã Hưng Yên.

Đình được xây dựng bằng vật liệu quý truyền thống, kiến trúc kiểu chữ Đinh(丁), vì kèo, cốn chồng đấu sen, mang đậm nét kiến trúc Việt Nam.

Đình thờ quan thái giám họ Du người gốc Trung Hoa, có công khai lập làng Minh Hương. Sau này ông được phong là Thành hoàng làng của thôn Mậu Dương và Hồng Nam.

Ngôi đình gồm có 5 gian, được nhân dân trùng tu lại khang trang, uy nghi, song nhiều hạng mục công trình khi trùng tu lại đã bị làm mất đi những giá trị kiến trúc nguyên sơ, cổ kính. Như hai hàng cột quân bị thay bằng tường xay, cửa bức bàn bị thay bằng cửa bưng, hậu đình bị phá đi, hai sàn gỗ lim ở hai gian đầu thể hiện thứ bậc của mọi người khi ngồi trong đình cũng bị dỡ bỏ.

Dù sao, những giá trị văn hoá, kiến trúc mỹ thuật được lưu giữ ở đình Hiến vẫn thể hiện sự đan xen, hoà hợp giữa những giá trị văn hoá bản địa với những giá trị văn hoá ngoại lai ở mảnh đất này, thể hiện tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc, truyền thống uống nước nhớ nguồn của nhân dân Việt Nam. Các vị thần được nhân dân thờ phụng, được sắc phong không phân biệt người Hoa hay người Việt.

Chùa

Phố Hiến hiện còn lưu truyền nhiều ngôi chùa cổ kính, có giá trị về tôn giáo, lịch sử, kiến trúc mỹ thuật, gắn liền với tên tuổi, lịch sử phát triển của mảnh đất này, tiêu biểu là chùa Hiến, chùa Chuông.

Chùa Hiến

Chùa Hiến toạ lạc ở gần đình Hiến, có tiền án là đê sông Hông. Ngôi chùa có quy mô kiến trúc khiêm tốn duyên dáng, hoà quyện với phong cảnh thuỷ mạc hữu tình, được trang trí bởi những cây nhãn cổ thụ tốt tươi. Chùa được xây dựng muộn nhất cũng vào thời Lê (năm 1625). Chùa Hiến là biểu tượng của Phố Hiến; nên chùa được trùng tu lớn nhiều lần vào các năm 1892, 1953 và 2001.

Chùa được xây dựng theo kiểu chữ “Quốc” bằng vật liệu quý truyền thống, gồm 4 phần: tiền đường 5 gian, 2 dĩ; thiêu hương 3 gian có bốn mái; thượng điện 3 gian và hai dãy nhà ngang.

Hiện chùa còn lưu giữ những giá trị điêu khắc kiến trúc và nhiều cổ vật thời Nguyễn như bệ thờ, bát hương bằng đồng, hai pho tượng Thích ca, một bằng gỗ mít, một bằng đồng, hai lọ độc bình và một chuông, một bia đá. Đặc biệt chùa còn lưu giữ một tấm bia ghi tên tuổi những người công đức xây dựng chùa Hiến. Đây là nguồn tư liệu quý, sớm nhất được bảo tồn về lịch sử hình thành và phát triển của Phố Hiến.

Chùa Hiến còn bảo tồn báu vật đặc sản của Phố Hiến, đó là cây nhãn tổ tiến vua.                                                 ,

Chùa Hiến là niềm tự hào của Phố Hiến, tuy có sự giao lưu với các luồng hoá khác, nhưng chùa Hiến vẫn mang đậm những giá trị văn hoá Việt Nam.

Chùa Chuông

Có tên chữ “Kim Chung tự”, giá trị nổi tiếng của chùa Chuông luôn gắn liền với tên Phố Hiến.

“Chùa Chuông Phố Hiến

Vốn tiếng danh lam”

Tên chùa gắn liền với câu chuyện huyền thoại về quả chuông có tiếng kêu vang xa ở trên bè gỗ trôi dạt vào đây năm Đại Hồng thuỷ. Chùa toạ lạc ở phía nam thôn Nhân Đục, xã Hiến Nam, thị xã Hưng Yên. Chùa được xây dựng từ thế kỷ XV và theo bia công đức chùa được trùng tu lớn vào năm 1708, giữ lại quy mô, kiểu dáng như hiện nay.

Chùa được xây dựng theo kiểu “nội Công, ngoại Quốc”. Chùa có hệ thống công tam quan kiểu chồng diềm uy nghi, duyên dáng và lộng lẫy, gồm cổng phụ 2 tầng, 8 mái, cổng chính 3 tầng 12 mái. Chính điện được kết cấu theo kiểu cốn chồng đấu sen, điêu khắc hình rồng cách điệu tinh xảo.

Chùa Chuông
Chùa Chuông

Hiện nay chùa còn lưu giữ một văn bia quý ghi tên những người công đức trùng tu chùa, một khánh đá, một chuông lớn, 52 pho tượng được tạo tác tỉnh xảo, 2 nghê đá đều có niên đại thời Lê. Đây là những báu vật, là nguồn tự liệu quý để nghiên cứu về Phố Hiến cổ, về những giá trị văn hoá kiến trúc mỹ thuật của người xưa.


Văn miếu Xích Đằng

Phố Hiến là vùng đất nằm trong xứ văn hoá Sơn Nam hạ, một vùng đất học, đất văn. Nên cùng với một số tỉnh như Bắc Ninh, Hải Dương… Phố Hiến còn lưu giữ Văn miếu hàng tỉnh.

Văn miếu Xích Đằng toạ lạc ở một làng quê thanh bình, không khí trong lành, ruộng vườn cây trái xum xuê (Xích Đằng – Lam Sơn – thị xã Hưng Yên). Công trình được khởi dựng từ năm 1804, có quy mô lớn. Kiến trúc như ngày nay có từ năm Minh Mạng thứ XIII (1831).

Văn miếu Xích Đằng được kiến trúc thành các bộ phận đăng đối sau:

Văn miếu môn hai tầng tám mái, với các đầu đao uốn cong đường bệ, uy nghiêm, theo đường thần đào, bên phải có gác chuông, miếu thờ thổ thần, bên trái có khánh đá.

Hai bên sân có tả vũ, hữu vũ mỗi dãy 5 gian, xưa là nơi các quan chuẩn bị trước khi tế lễ.

Phần chính điện là toà nhà có lối kiến trúc chữ “Tam”.

Văn miếu Xích Đằng sau một thời gian dài bị lãng quên, bị xuống cấp. Từ năm 1997 đến nay công trình đã được Nhà nước và địa phương đầu tư để trùng tu, tôn tạo giữ lại những giá trị nguyên vẹn như xưa, từ vật liệu đến giá trị kiến trúc mỹ thuật.

Văn miếu Xích Đằng là điểm tham quan mà khi trùng tu xây dựng đã có quy hoạch để phát huy giá trị nhằm phát triển du lịch nên đã chú trọng đến xây dựng công trình vệ sinh, bãi đỗ xe, làm đường ô tô trải nhựa đến tận công trình.

Hiện nay ở đây còn lưu giữ 8 tấm bia đá ghi danh tên họ, thân thế, sự nghiệp của 72 vị tiến sĩ quê ở Hưng Yên từ thời Trần đến thời Lê.

Văn miếu Xích Đằng là di tích thể hiện rõ truyền thống văn hoá, hiếu học của người dân Phố Hiến, điểm tham quan hấp dẫn với du khách.

Hội quán Đông Đô Quảng Hội

Hội quán được xây dựng ở trung tâm Phố Hiến hạ cùng với đền Thiên Hậu, đây là nơi hội họp của người Hoa và những thượng khách đến giao thương, đồng thời hội quán là nơi thờ tam thánh gồm thần Hoa Quang (thầy dạy trăm nghề), thần Nông và thờ Thiên hậu Thánh mẫu Lâm Tức Mạc.

Công trình được xây dựng từ thời Lê Thế Tông (1597), trước kia kiến trúc theo kiểu chữ “Nhị”, nay chỉ còn lại một toà nhà.

Hội quán do 14 dòng họ người Hoa đến đây định cư xây dựng. Nguyên vật liệu xây dựng như ngói thanh Lưu ly, gỗ, cánh cửa, đồ tế tự đều được mua từ Trung Quốc chở sang. Vì vậy hội quán Đông Đô Quảng Hội là di tích lịch sử văn hoá mang đậm những giá trị văn hoá Trung Hoa.

Do đươc xây dựng đã trên 400 năm, vai trò kinh tế của Phố Hiến đã bị suy thoái, phần lớn người Hoa phiêu tán đi các nơi, số định cư lại còn ít, đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn, nên công trình không được quan tâm bảo tồn, tôn tạo, hiện nay bị xuống cấp nghiêm trọng.

Nhà thờ

Nhà thờ họ Ôn

Thò cúng tổ tiên là thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, đây là tập quán của cả người Việt và người Hoa.

Trong lịch sử phát triển, Phố Hiến đã có tới 14 dòng họ người Hoa từ 6 tỉnh của Trung Quốc đến đây định cư, sinh sống. Tuy nhiên hiện nay chỉ có 4 dòng họ gồm họ Tiết, họ Ôn, họ Lý, họ Hoàng để lại gia pha có ghi chép cẩn thận. Trong đó chỉ còn hai dòng họ (trong đó có họ Ôn) lưu giữ được nhà thờ họ theo lối kiến trúc chữ “Nhất”, toạ lạc ở phía sau khu nhà ở của gia đình, dùng để trông nom hương khói và đặt bàn thờ tổ tiên có bài vị thờ gia phả, sắc phong. Gia phả của họ Ôn đã lưu truyền được 8 đời, ước tính tổ tiên của họ đã đến Phố Hiến sinh sống khoảng 500 năm.

Nhà thờ Thiên chúa giáo
Nhà thờ Thiên chúa giáo

Nhà thờ Thiên chúa giáo

Bên cạnh người Trung Hoa, nhiều thương gia của các nước phương Tây cũng đến Phố Hiên buôn bán, lập thương điếm. Các nhà truyền đạo Thiên chúa giáo đã theo thuyền buôn đến đây khá sớm, từ đầu thế kỷ XVII.

Vì vậy, các nhà thờ Thiên chúa giáo có giá trị về kiến trúc, tôn giáo, quy mô lớn đã được xây dựng ở Phố Hiến. Nhà thờ trung tâm ở phường Lê Lợi, thị xã Hưng Yên được xây dựng năm 1898 và nhà thờ ở Làng Tiêu ngày nay, được xây dựng năm 1905.

Nhìn bề ngoài, mặt trước của các nhà thờ có kiến trúc theo kiểu Gô tích, có các tháp nhọn cao, các toà nhà sâu và cao. Nhưng câu trúc bên trong là bộ khung chịu lực bằng gỗ, được nối với nhau bằng hệ thống xà, bẩy, cột, các mộng. Các đầu bẩy, đầu dư được chạm khắc hình hoa lá, tứ linh, tứ quy, hình âm dương, bát quái mang giá trị kiến trúc mỹ thuật Việt Nam.

Các nhà thờ ở Phố Hiến thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc Việt Nam, kiến trúc phương Đông, kiến trúc phương Tây và phong cảnh của vùng quê thanh bình.

Ngoài những di tích lịch sử văn hoá đa dạng đặc sắc trên, Phố Hiến hiện còn lưu giữ nghĩa địa của người ngoại quốc, tuy đã hoang tàn và các di tích khảo cổ, nơi các nhà khảo cổ đã khai quật tìm thấy nhiều cổ vật quý thể hiện dấu tích một thời thịnh vượng của thương cảng này. Đây cũng là những di tích lịch sử văn hoá quan trọng giúp cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử văn hoá của Phố Hiến và đất nước.

Những di tích lịch sử văn hoá còn được bảo tồn ở Phố Hiến hiện nay là nơi lưu giữ những di sản văn hoá, lịch sử, kiến trúc mỹ thuật vô giá, phản ánh sự kết hợp hài hòa, đan xen giữa những giá trị văn hoá Việt Nam, những giá trị văn hoá Trung Hoa và văn hoá phương Tây. Tất cả đã tạo ra những giá trị tiêu biểu, độc đáo của Phố Hiến, phản ánh tinh thần đoàn kết cộng đồng, tình hữu nghị giữa các dân tộc, truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn của người Việt. Đây là nguồn tài nguyên quý giá, quan trọng, góp phần phát triển đu lịch và kinh tế – xã hội bền vững ở Phố Hiến.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN