ĐÌNH VẠN XUÂN – HUẾ

Nhân dịp tổ chức lễ Thu tế và Khánh tạ trùng tu đình làng Vạn Xuân. Chúng tôi xin giới thiệu một vài nét tiêu biểu của ngôi làng được hình thành từ thời các chúa Nguyễn cùng thời với phủ chính Kim Long và cũng là một làng văn vật kề cận kinh thành Huế.

Theo lời truyền khẩu của một số già làng, làng Vạn Xuân có tên là Kẻ Vạn, được hình thành cùng thời với làng Thụy Lôi (Phú Xuân) thế kỷ XIV đời Trần (1306) thuộc huyện Kim Trà. Năm Mậu Ngọ (1558) khi chúa Tiên (Nguyễn Hoàng 1525 – 1613) vào nam lập nghiệp, ngài Phó Doãn Sự họ Trần định lại địa giới sức đinh làng Kẻ Vạn cùng với làng Thụy Lôi, Diễn Phái, Thế Lại… Nhưng theo chúng tôi kiểm chứng lại thông qua sách Ô châu cận lục (Dương Văn An) lại không thấy tên làng Vạn Xuân, Kẻ Vạn hay là Cải Vạn.

Trong sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn có ghi: làng Vạn Xuân là một làng được thành lập muộn vào thời các chúa Nguyễn, làng thuộc tổng Phú Xuân, huyện Hương Trà1, làng hiện nằm phía tây, sát kinh thành Huế, bắc giáp An Hòa, tây giáp Kim Long, đông giáp Hộ Thành hà, nam giáp sông Hương, nguyên gồm một phần đất xã Phú Xuân và một phần đất xã Hà Khê cổ. Tập truyền của làng cho biết ngài khai canh có danh vị hiện thờ là:  Dũng Lược Địch Khái Tráng Du Quang Túc Dực Bảo Trung Hưng Quang Ý Cai Tri Phó Tướng Hùng Xuyên Hầu Trần quý công phủ quân tôn thần, là một quan chức của chúa Nguyễn và làng còn thờ vị hậu khẩn là Chính trị thượng khanh Hộ bộ Phúc Khiêm hầu. Làng có tất cả 25 họ tiền khai canh hậu khai khẩn, trong đó có 6 họ tiền khai canh là Trần, Nguyễn Doãn, Nguyễn Viết, Mai Đức, Lê Văn, Nguyễn Trung.

Đình làng hiện tọa lạc trên đường Vạn Xuân, kiệt 95 rẽ vào khoảng 200m, ngôi đình quay theo hướng nam kiêm đông, chung quanh thoáng đãng, phía tây và nam bây giờ là khu quy hoạch nhà ở, phía đông là nhà cửa thôn xóm của con dân trong làng, phía bắc là khu định cư dân Bến Me. Thời điểm xây dựng đình thì không rõ nhưng được tu sửa qua các năm 1916, 1932, 1953, 1958, 1968, 1978, 1985, 1999 và đến tháng 4 năm 2009 tiếp tục đại trùng tu. Đình làng trong lần trùng tu mới đây vẫn giữ nguyên kiến trúc như cũ với khuôn viên rộng hơn 2000 m2, mặt trước xây thành cùng 4 trụ biểu được tô quét trang nghiêm. Bên hữu có miếu Khai khẩn cạnh 5,5m, kế đó miếu Khai canh cạnh 4m. Ngôi đình không có tiền đường, chính điện dài 16m, rộng 11m, kiểu nhà rường ba gian hai chái kép, gồm 32 cột trong và 6 cột ngoài hiên. Các kèo đều không được chạm trỗ, mái lợp ngói móc. Nội thất bài trí phía sau bảy án thờ sát vách: Án chính giữa: Bổn thổ đại Thành Hoàng; án tả và hữu nhất: phối tự liệt vị, án tả nhị, hữu nhị: Thổ địa chính thần và Thổ công tôn thần; án tả tam và hữu tam: Thờ các tôn phái liệt vị. Phía trước, án chính giữa đặt một kiệu loan cùng hai hàng lỗ bộ; hai gian tả, hữu đặt hai án thờ, tất cả đều được chạm trỗ và sơn son thếp vàng. Phía trên treo bức hoành phi: Vạn phúc du đồng (萬福攸同: Muôn phúc đều cùng một nơi), lạc khoản: Duy Tân Bính Thìn xuân (1916), bức hoành phi phía sau đề: Đức bá giai xuân (德播皆春: Đức rộng khắp đều là xuân), dòng lạc khoản đề: Long Phi Bính Tý trọng thu bái đề (tháng 8, năm Bính Tý, niên hiệu Long Phi2 bái đề), ngoài ra còn có 4 cặp câu đối được khắc trên gỗ. Đặc biệt gian chính giữa ở phía trên có một bức tranh hình rồng uốn lượn cùng mây được vẽ rất tinh xảo…

Trong miếu Khai canh có một bài minh như sau:

開我土宇惟工性陳           Khai ngã thổ vũ, duy công tính Trần

生前為將沒後為神           Sinh tiền vi tướng, một hậu vi thần

忠烈於國功德於民           Trung liệt ư quốc, công đức ư dân

新廟奕奕于胥萬春           Tân miếu dịch dịch, vu tư Vạn Xuân.


Dịch nghĩa:

Mở mang làng xóm, bởi vị họ Trần

Lúc sống làm tướng, chết lại làm thần

Trung kiên với nước, công đức với dân

Miếu mới vững chắc, nay ở Vạn Xuân

Làng hiện còn giữ được 24 bản sắc phong,  phong cho các vị Thiên Y A Na, Bổn Thổ Bạch Mã, Quan Thánh, Thành Hoàng , Khai Canh. Ngoài ra còn một số trích lục và địa bạ từ thời Pháp thuộc để lại.

Làng Vạn Xuân đã hội đủ những yếu tố như đình, chùa, miếu, vũ…tạo nên một quần thể kiến trúc đa dạng, mang đậm dấu ấn của làng xã Việt Nam. Sau bài viết này kính mong các cơ quan chức năng xem xét, đánh giá để xếp hạng di tích, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống văn hóa của làng.

Lê Văn Thi

Tháng 7, năm Kỷ Sửu



BÀI VIẾT LIÊN QUAN