Khu di tích khảo cổ Ba Đình – 18 Hoàng Diệu

Cùng với những di tích lịch sử, văn hoá còn được lưu giữ, bảo tồn trên mặt đất, trong khu vực thành cổ Hà Nội còn có khu di tích khảo cổ Ba Đình – 18 đường Hoàng Diệu ẩn chứa dưới lòng đất cả một thành Đại La, Hoàng Thành Thăng Long tráng lệ trong 13 thế kỷ. Khu di tích khảo cổ này được Bộ Văn hoá Thông tin nước ta cho khai quật vào đầu năm 2004.

Khu di tích khảo cổ 18 Hoàng Diệu thuộc quận Ba Đình, nằm trong khu vực thành cổ Hà Nội giữa các phố: Hoàng Diệu ở phía đông, Hoàng Văn Thụ ở phía bắc, Độc Lập ở phía Tây và Bắc Sơn ở phía nam. Mặt đông cách Kính Thiên hơn 1.000m. Các nhà khoa học đã xác định: khu di tích nằm trong khu vực Hoàng Thành, nếu lấy điện Kính Thiên làm tâm điểm thì nằm về phía tây.

Khu di tích mới phát lộ chứa đựng những tầng văn hoá với các dấu tích kiến trúc, các di vật có một bề dày lịch sử 13 thế kỷ, từ thế kỷ VII SCN đến thế kỷ XIX, gồm thời tiền Thăng Long, thời Thăng Long và Hà Nội.

Những tầng văn hóa tại khu di tích khảo cổ Ba Đình tại 18 Hoàng Diệu

Tầng văn hoá là các lớp đất có chứa các di tích và các di vật lịch sử văn hoá qua các thời kỳ lịch sử. Nhìn chung, trên toàn khu vực vị trí nào cũng xuất lộ các tầng văn hoá, có chứa các dấu tích và các di vật lịch sử văn hoá trong khoảng 1300 năm trước. Các lớp đất văn hoá này thường xuất hiện ở độ sâu khoảng từ 1 m trở xuống, dày từ 2m đến 3,5m.

Từ độ sâu 1 – 2m là lớp văn hoá thời Lê, có niên đại thế kỷ XV – XVIII. Tuy nhiên, theo thuật ngữ khảo cổ học đôi khi có sự “xáo trộn về văn hoá”. Ở một số vị trí, trên lớp văn hoá thời Lê có vết tích văn hoá thời Lý – Trần; một số vị trí có dấu tích văn hoá thời Nguyễn.

Từ độ sâu 2 – 3m là lớp văn hoá thời Lý và thời Trần (thế kỷ XI – XIV). Tại đây còn xuất hiện một số vị trí có dấu tích một nền gạch vuông thời Trần chồng lên nền gạch vuông thời Lý qua một lớp đất dày 12 đến 15cm. Một số dấu tích văn hoá thời Đinh – Lê.

Từ độ sâu 3 – 4m là lớp văn hoá thời Bắc thuộc, được gọi là thời Đại La, hay còn gọi là thời kỳ tiền Thăng Long (thế kỷ VII – IX).

Trong các lớp đất văn hoá trên, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều dấu tích kiến trúc và những di vật của các thời kỳ từ thế kỷ VII – XIX cho thấy giá trị văn hoá lịch sử của Hoàng thành Thăng Long xưa.

Các dấu tích kiến trúc của Hoàng thành Thăng Long ở khu di tích khảo cổ 18 Hoàng Diệu

Các dấu tích kiến trúc tìm thấy trong khu di tích gồm: nền, móng, các công trình kiến trúc, các chân cột, các đoạn tường gạch, các đoạn đường, nền nhà lát gạch, hệ thống thoát nước, giếng nước, dấu vết “ngự hà”, hồ sen…

Dấu tích sớm nhất thuộc thế kỷ VII – IX, đó là dấu tích của các nền kiến trúc xếp bằng gạch màu xám và các chân đá tảng. Tiêu biểu ở hố B3, nơi xuất hiện một dấu tích kiến trúc còn lưu giữ bốn cột gỗ lớn đang đựng trên chân đá tảng. Các cột gỗ này cao 1,6m; chu vi khoảng 1,32m, có một cột gỗ nhỏ hơn được kê trên một thanh gỗ và các viên gạch bìa màu xám. Ngoài ra, còn có hai chân đá tảng khác. Các chân đá tảng có hình khối chữ nhật dài 96cm, rộng 72cm được gia công đơn giản, không có trang trí. Từ tim cột, các cột này cách nhau 3,8m; chiều dài bắc nam của các cột gỗ này khoảng 35m. Điều đó cho thấy mặt bằng của kiên trúc này khá lớn.

Dấu tích kiến trúc thời Lý được xác định ở các khu A1, A20, B3. Khu A1 xuất hiện dấu tích “kiến trúc nhiều gian”. Kiến trúc này dài hơn 60m, rộng 20m có hơn 70 trụ móng hình vuông (1,3m x 1,3m) được gia cố bằng sỏi và gạch ngói vụn. Phía nam kiến trúc này bị mất bốn móng trụ. Vào cuối thời Trần, kiến trúc này bị cháy và thay vào bằng một kiến trúc khác nhỏ hơn. Kiến trúc này có quy mô khá đầy đủ của một kiến trúc cung điện lớn thuộc giai đoạn Lý – Trần, lần đầu tìm thấy ở Thăng Long. Phía tây của kiến trúc có 11 kiến trúc nhỏ, có kiến trúc kiểu lầu “lục giác” chạy theo hướng Bắc – Nam.

Tại khu A20, dấu tích kiến trúc thời Lý được xác định rõ nhất. Ở đây có hai nền kiến trúc chạy song song theo hướng đông – tây, được phân cách nhau băng một sân nền lát gạch vuông. Hai dấu tích này được xác định bằng những viên gạch bìa màu đỏ bó thềm và các chân tảng đá hoa sen.

di tích khảo cổ Ba Đình - 18 đường Hoàng Diệu
di tích khảo cổ Ba Đình – 18 đường Hoàng Diệu

Tại khu B3, dấu tích kiến trúc nhiều gian có gạch xây nhỏ, gần hình vuông, gạch lát vuông và các hình trụ. Trụ sỏi có ba hàng, 14 dãy chạy theo hướng bắc – nam. Kích thước của kiến trúc này dài khoảng 60m, rộng 7,4m.

Dấu tích kiến trúc thời Trần bao gồm: dấu tích kiến trúc có móng trụ hỗn hợp sỏi – gạch vụn A1, được xác định bởi các móng trụ sỏi, tường gạch và bó vỉa hình hoa chanh nằm đè lên kiến trúc nhiều gian thời Lý.

Dấu tích kiến trúc có móng trụ bằng gạch A1: các móng trụ gần vuông, kích thước trụ khá đều nhau, trung bình 0,8m x 0, 78m x 0,30m. Quy mô kiến trúc đã xuất lộ 8,60m x 7,50m. Niên đại của các móng gạch có thể khoảng cuối thế kỷ XIV – XVI.


Dấu tích kiến trúc có móng trụ sỏi ở A20 và A5. Dâu tích kiên trúc này được gia cố bằng sỏi khá kiên cố. Hiện tìm thấy 14 trụ loại này, có hình vuông (1,77m x 1,95m), cao 2 – 2,05m, tâm các móng trụ cách nhau 5,67m. Phần đã xuất lộ dài 26,60m x 25,60m. Xét mặt bằng và các hiện vật phủ quanh móng trụ này đều thuộc thời Trần.

Dấu tích kiến trúc thời Lê chỉ thấy rõ ở đây có đặc trưng được làm bằng loại gạch vồ thời Lê. Các kiến trúc đều được bố trí các đường cống thoát nước bao gồm: Cống thoát nước xây bằng gạch chuyên dụng có cấu trác hình thang và hình bình hành; cống thoát nước được xây dựng bằng các loại ống tròn làm sẵn. Các loại cống nước được bố trí thoát nước cho từng đơn nguyên kiến trúc với nhiều cửa cống đổ nước ra khu vực ven dòng sông cổ. Có cả loại cống với kích thước rất lớn thoát nước cho cả một khu vực, như cống lớn xây bằng gạch ở khu A.

Trong khu di tích khảo cổ còn tìm thấy một hệ thống giếng nước. Bao gồm hai giếng nước có niên đại thời Tống Bình – Đại La (thế kỷ IX) được xây bằng gạch màu xám, hai giếng nước thời Lý (1 khu A1, 1 ở khu B16) xây bằng gạch bìa màu đỏ; hai giếng nước thời Trần (1 ở khu A9, 1 ở khu D5) xây bằng gạch bia màu đỏ; năm giếng thời Lê xây bằng gạch vồ, hai giếng nước được xây bằng loại đá hỗn hợp, có niên đại cuối thời Lê – đầu thời Nguyễn (cuối thế kỷ XVIII – XIX>.

Dấu tích cảnh quan trong khu vực gồm có: sông cổ, hồ cổ. Giữa khu A và B đã thấy dấu tích của một dòng sông cổ, rộng hơn 20m. Đoạn sông được phát lộ dài gần 100m đã bị san lấp bằng gạch ngói, gốm sứ các thời với các di tích cuống sen lá sen chứng tỏ nơi đây xưa đã thả sen. Các nhà khảo cổ cho rằng, có một dòng sông chảy ngang qua Hoàng Thành. Tại khu A, B, C và D đều thấy dấu tích của các “đầm, hồ cổ”, đặc biệt là dấu tích các hồ có niên đại thời Trần.

Các di vạt của khu di tích khảo cổ 18 Hoàng Diệu.Trong hơn ba triệu hiện vật tìm được tại khu di tích khảo cổ 18 Hoàng Diệu chiếm số lớn là gạch ngói đồ gốm và vật liệu trang trí kiến trúc. Có hàng trăm di vật lần đầu tiên được tìm thấy và dường như chỉ tìm được trong Hoàng Thành Thăng Long.

Gạch, ngói trang trí, kiến trúc

Thời Bắc thuộc (thế kỷ VII – IX); Gạch ngói tìm thấy khá nhiều: gạch xây chủ yếu có màu xám, độ nung cao, gạch màu đỏ số lượng ít. Một số viên gạch có chữ “Giang Tây”, “Giang Tây Quân”… cho thấy sự đóng góp của binh lính nhà Đường trong việc phục vụ xây thành Đại La. Gạch lát bắt đầu có hoa văn như: cá sấu bơi trong sóng nước, hoa sen cách điệu. Ngói chủ yếu là ngói âm dương màu xám; một số ngói đầu mũi được trang trí: mặt linh thú, mặt hề, hoa sen, hoa thị. Vật liệu xây dựng thời này chưa thấy có hình rồng phượng mà chủ yếu là các hình “linh thú”.

Thời Định – Lê: Cả gạch và ngói đã có màu đỏ, được tìm thấy trong hai lần khai quật ở cố đô Hoa Lư (Ninh Bình). Gạch bìa màu đỏ, mặt gạch có in chữ “Đại Việt Quốc Dân Thành Chuyên”. Tìm thấy các loại ngói bó nóc, trên lưng có trang trí tượng uyên ương có vóc dáng khoẻ.

Thời Lý (thế kỷ XI – XII): Các loại gạch ngói được tìm thấy nhiều về số lượng và phong phú về chủng loại. Cả gạch và ngói đều có màu đỏ nhạt, hơi ngả vàng. Gạch gồm có gạch bìa, gạch hình chữ nhật và gạch vuông, mặt gạch có in chữ nổi “Lý gia đệ tam đế Long Thuỵ Thanh Bình tứ niên tạo”. Có một số loại gạch vuông được trang trí hoa cúc, hoa sen với đường nét mềm mại. Ngói lợp thời kỳ này chủ yếu là ngói âm, ngói mũi sen (mũi hài) và đã xuất hiện loại tráng men màu trắng ngà. Trong một số vị trí tìm thấy loại ngói có đầu, lưng ngói được trang trí thêm “lá đề”, hình rồng phượng, hoa sen, hoa cúc… Rất nhiều vật liệu trang trí hình đầu rồng, đầu phượng được tìm thấy.

Thời Trần: Các loại gạch ngói tìm thấy vẫn nhiều và phong phú về chủng loại có màu đỏ nhưng sẫm hơn. Gạch xây có nhiều loại in chữ “Vĩnh Ninh Trường” gạch lát in nổi hình hoa mẫu đơn. Ngói phổ biến là ngói mũi sen, có đâu mũi hất cao, hoặc mũi vát cạnh hình tam giác, xuất hiện thêm cả ngói mũi lá. Hoa văn trang trí tiếp tục những mô tip thời Lý, nhưng với đường nét ngày càng đơn giản, phóng khoáng hơn.

Thời Lê Sơ: Gạch chủ yếu là loại gạch vồ cỡ lớn. Ngói phổ biến là các loại có chữ ghi các ký hiệu của quân đội thời Lê Thánh Tông. Ngói chủ yếu là ngói âm dương. Trong số ngói âm dương có loại có kích cỡ lớn, màu đỏ và được trang trí rồng. Thời này bắt đầu xuất hiện yếm ngói (thời Lý – Trân không có) và còn tìm thấy nhiều ngói diềm, gạch ông tường có màu đỏ, có phủ môn xanh xam.

Thời Mạc: Có tìm thấy những viên gạch, ngói âm dương có trang trí hình rồng nhưng đường nét đơn giản hơn thời Lê Sơ.

Thời Lê Trung Hưng: Những loại gạch được tìm thấy phổ biến là các loại gạch vồ cỡ nhỏ hơn thời Lê Sơ. Ngói chủ yếu là ngói Lê Sơ màu xanh xam, đầu ngói và yếm ngói có trang trí hoa cúc hoặc hoa sen. Còn tìm thấy cả ngói mũi sen, nhưng độ cong của mũi sen ngắn hơn. Vật liệu xây dựng thời kỳ này không thấy có trang trí hình rồng.

Thời Nguyễn: Các công trình kiến trúc được xây dựng chủ yếu ở trên mặt đất hiện nay, và đã bị phá huỷ hầu hết. Do vậy, nhóm vật liệu tìm thấy trong thời kỳ này ít và phần nhiều bị vỡ nát, gồm có: gạch Bát Tràng có hình khắc vuông dẹt kích cỡ vừa phải, ngói mũi có kích cỡ nho nhẹ và trang trí đơn giản.

Đồ gốm sứ

Đồ gốm sứ tìm được chủ yếu là các loại đồ cao cấp với những biểu tượng chỉ giành cho vương triều (như hình rồng có năm móng và có chữ “quan” hay chữ “kinh”)do Việt Nam sản xuất với trình độ nghệ thuật cao, tinh xảo.

Gốm thời Lý: Đồ gốm thời Lý bao gồm: gốm men trắng, gốm men xanh lục, gốm men ngọc, gốm men nâu và gốm men vàng, Các loại đồ vật gốm men trắng thời Lý có độ trắng mịn và óng mượt. Đồ gốm men ngọc có bát đĩa trang trí in hoa cúc dây hoặc khắc chìm hoa sen. Đồ gốm men ngọc phổ biến có chất lượng cao, màu sắc đậm, xương gốm trắng và mịn. Đồ gốm xanh lục có màu men quyến rũ với các đề tài trang trí hoa lá, hoặc hình rồng tinh xảo. Đồ gốm hoa nâu thường là những sản phẩm có kích thước lớn, tạo dáng đẹp, hoa văn trang trí cầu kỳ và mang tính nghệ thuật cao. Các đồ gốm hoa nâu tiêu biểu là các loại chậu trang trí hoa sen dây và vân dây lá… Đồ gốm men nâu thời này có hai loại chủ yếu: bên ngoài phủ men nâu, bên trong phủ men tráng và loại phủ men nâu cả trong lẫn ngoài. Đồ gốm này hoa văn trang trí đơn giản, chủ yếu là khắc chìm dưới men và in khuôn hoặc không trang trí hoa văn. Men nâu thời Lý thường có màu nâu đậm hay nâu đen, men thường không bóng, hơi thô ráp, trên bề mặt thường có những vệt men chảy hoặc những hạt phấn trắng, đôi khi do hoả biến men chảy loang mịn như lông thỏ.


Gốm sứ thời Lý được tìm thấy trong khu di tích khảo cổ thường thanh thoát, mềm mại về kiểu dáng, nhưng lại rất cầu kỳ, tinh mỹ trong trang trí hoa văn. Kỹ thuật tạo hoa văn có ba loại cơ bản là: đắp nổi, khắc chìm và in khuôn, hoặc không trang trí hoa văn. Đề tài trang trí phổ biến là hoa sen, hoa cúc, hình rồng, dương xỉ, văn như ý, tiên nữ. Các đề tài này vừa mang đậm yếu tố phật giáo, mang truyền thống riêng của gốm Việt.

Gốm thời Trần (thế kỷ XIII – XIX): Có sáu loại gốm chính là men trắng, men ngọc, men xanh lục, men nâu, hoa nâu và hoa lam. Gốm thời Trần được tìm thấy về cơ bản có phong cách giống với gốm thời Lý cả về hình dáng, màu men và hoa văn trang trí. Gốm thời Trần nhìn chung kỹ thuật tạo chân đế không được làm kỹ như gôm thời Lý, hoa văn trang trí cũng đơn giản hơn, kiểu dáng đôi khi thô hơn.

Đồ gốm men trắng thời Trần ở trong Hoàng Thành không có màu men trắng mịn và óng như thời Lý. Men thường có màu trắng ngà hay trắng xanh.

Đồ gốm men xanh ngọc được trang trí hoa văn in khuôn trong và khắc chìm dưới men, có nhiều loại hoa văn mới như hoa cúc, hoa mẫu đơn dây theo phong cách tả thực. Loại hoa văn cảnh sen, bên trong in nồi hình hoa lá hoặc kết hợp giữa hoa lá và bát bửu, giữa lòng in nổi hình một con rùa nhỏ, hoặc chữ Hán dường như mang đặc điểm riêng của gốm thời Trần. Gốm men xanh lục có đặc điểm đáng chú ý là thường tô son nâu chứ không phủ kín men và không có mấu chân kê như đồ gốm men xanh lục thời Lý, hoa văn dưới men với đóa hoa cúc cách điệu. Gốm men vàng được tìm thấy trong thời này là chiếc tước quý dùng để uống rượu (còn gọi là cốc có chân đế) tìm thấy ở hố A3. Chiếc tước này bên ngoài phủ men màu vàng, xung quanh trang trí vân da báo, được tạo bởi chấm tròn bằng men nâu đen, bên trong phủ men xanh lục.

Đồ gốm hoa nâu và đồ gốm men nâu: gốm hoa nâu thời kỳ này thường cỏ kích thước rất lớn, dáng mập, khoẻ, xương gốm dày, men màu trắng ngà hoặc trắng xanh, hoa văn thể hiện phóng khoáng hơn gốm thời Lý.

Di vật gốm hoa nâu thời Trần đặc sắc được tìm thấy ở đây là chiếc chậu trang trí bốn con chim đi kiếm mồi trong bốn tư thế khác nhau, xen kẽ giữa cành lá sen va hoa sen nhỏ. Gốm men nâu tiêu biểu với nhóm bát trang trí in mây hoặc hình các cánh hoa bên trong các cánh sen và nhóm bát bên trong lòng phủ men trắng trang trí văn mây hình khánh hoặc văn dây lá tả thực.

Đồ gốm hoa lam là nét đặc trưng sự sáng tạo về tạo men của gốm thời Trần. Phổ biến là bát đĩa vẽ cành hoa cúc bằng màu nâu sắt hoặc màu xanh dưới men. Di vật đã tìm thấy tại các hố khu D là những đĩa lớn vẽ cành hoa cúc, văn mây hình khánh, chim phượng và hoa lá. Đặc biệt tìm thấy những đồ gốm hoa lam cao cấp như chiếc nắp hộp lớn trang trí hoa cúc, hoa sen dây, kiểu vẽ là hoa sen giống như lối vẽ trên gốm thời Nguyễn, Lò Cảnh Đức Tuấn (Trung Quốc), chiếc nắp hộp này men bị sống.

Gốm thời Lê (thế kỷ XV – XVIII): Đồ gốm thời Lê được tìm thấy nhiều nhất ở khu vực ven triền sông cổ, nằm giữa khu A và khu B. Gốm thời Lê đựợc chia làm ba giai đoạn là gốm thời Lê Sơ, gốm thời Lê – Mạc (thếkỷ XVI) và gốm thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII – XVIII).

Gốm thời Lê Sơ bao gồm: gốm men trắng, gốm men ngọc, gốm men nâu đen, gốm hoa lam và gốm vẽ màu. Trong đó phổ biến nhất là sản phẩm gốm hoa lam và gốm men trắng: gốm men trắng tinh xảo, mỏng, trang trí in nổi hình rồng năm móng giữa lòng in chữ “quan”. Và gốm hoa lam cao cấp trang trí hình rồng, phượng. Những đồ gốm này hiện chỉ tìm thấy ở hai di tích của nhà Lê ở Lam Kinh (Thanh Hoá) và Hoàng Thành Thăng Long.

Đồ sứ trắng mỏng là sản phẩm sứ độc đáo xuất hiện từ thời này. Chủ yếu là các loại bát, đĩa cỡ nhỏ, có xương gốm mỏng, khi soi lên ánh sáng có thể nhìn thấy hoa văn trang trí bên trong. Các nhà nghiên cứu gọi loại đồ sứ này là “sứ thấu quang”. Trong lòng đồ vật của loại gốm này thường được trang trí hoa văn theo cách in nổi hình hai con rồng có năm móng và giữa in chữ “quan”. Đồ vật loại gốm này thường làm đơn chiếc, men thường phủ kín đáy, bao gồm cả mép vành chân đế, chân đế được tạo rất mỏng và mép vành chân đế tròn.

di tích khảo cổ Ba Đình - 18 đường Hoàng Diệu
di tích khảo cổ Ba Đình – 18 đường Hoàng Diệu

Gốm thời Lê – Mạc: Chủ yếu là loại gốm men trắng và gốm hoa lam. Gốm men trắng trong lòng trang trí in khuôn văn sóng nước hình vây cá, mang phong cách điển hình của gốm Bát Tràng. Gốm hoa lam trang trí rồng, phượng. Gốm hoa lam Chu Đậu (Hải Dương) ở di tích Hoàng Thành có hai loại chủ yếu: loại men trắng hoa văn trang trí đẹp, điển hình là loại gốm vẽ đề tài tùng – cúc – trúc hay vẽ phong cảnh và chim thú; loại men trắng xám có chất lượng thấp hơn, hoa văn trang trí đơn giản, phổ biến vẽ hình hoa lá, chim thú.

Gốm thời Lê Trung Hưng: Đa phần có chất lượng thấp, hoa văn trang trí đơn giản và mang phong cách dân gian. Gồm hai dòng gốm chính: gốm men trắng ngà men huyết dụ và gốm men trắng vẽ hoặc in màu lam hoặc màu sắt.

Khu di tích Hoàng Thành — 18 Hoàng Diệu là nơi chứa đựng, lưu giữ những dấu tích kiến trúc, các di vật quý của Hoàng Thành Thăng Long trong suốt 13 thế kỷ, từ thời tiền Thăng Long cho đến thời nhà Nguyễn từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIX có ý nghĩa lịch sử văn hoá vô cùng to lớn. Vỉ vậy, Nhà nước và các cấp quản lý đã xác định bảo tồn toàn bộ và lâu dài khu di tích, có rất nhiều phương án được đưa ra. Hiện nay 16.640m2 diện tích của khu di tích trên tổng diện tích 19.000m2 đã được làm mái để che bằng tấm lợp nhựa, kết cấu khung sắt kết hợp với những tay đỡ bằng tre. Hệ thống thoát nước cũng được tính toán, xử lý sao cho toàn bộ nước mưa trên mái được thoát về hai bên. Các mạch nước ngầm cũng được xử lý bằng các đường ống dẫn vào hồ để bơm ra hệ thống cống thoát nước. Khu khảo cổ học Ba Đình — 18 Hoàng Diệu và các di tích lịch sử văn hoá cách mạng trong Thành cổ Hà Nội tạo thành một quần thể di tích lịch sử có ý nghĩa vô cùng thiêng liêng, quý giá. Nó là sự hội tụ những tinh hoa của dân tộc hơn 13 thế kỷ, là bằng chứng quan trọng để nghiên cứu, tìm hiểu, cảm nhận lịch sử, truyền thống văn hoá Việt Nam nói chung và Thăng Long – Hà Nội nói riêng.

 

Nền văn minh rực rỡ của Việt Nam được lưu giữ, thể hiện ở khu di tích Thành cổ Hà Nội đã làm cho nhiều nhà nghiên cứu và du khách bị cuốn hút, khâm phục, ngưỡng mộ. Trong đó, khu di tích khảo cổ 18 Hoàng Diệu không chỉ có ý nghĩa lịch sử văn hóa đối với Việt Nam mà còn rất quan trọng đối với quá trình phát triển lịch sử và văn hoá nhân loại. Dự kiến tháng 7 năm 2007, Bộ Văn hoá Thông tin sẽ hoàn tất hồ sơ để tháng 1 năm 2008, Hội đồng xét duyệt của UNESCO xem xét hồ sơ và thực địa. Nếu mọi việc diễn ra theo dự kiến thì năm 2009 khu di tích Hoàng Thành Thăng Long có thể sẽ được công nhận là Di sản văn hoá thế giới với tiêu chí quan trọng là “bằng chứng vật chất còn lại của mẫu hình nhà nước phương Đông về quản lý dân cư và trị thuỷ”.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN