Tổ nghề trong tâm thức người thợ thủ công

Cha ông ta xưa quan niệm người ta sống ở trên đời phải có nghề có nghiệp,  “nhân sinh thế thượng thùy vô nghệ”. Nghề xuất hiện  là do  nhu  cầu sống, nhu cầu thẩm  mỹ và nhu cầu  chiến đấu  của con n g ư ờ ỉ. .. cỏ được nghề tinh  xảo người thợ thủ công có cơ hội để “vinh thân phì gia”, người xưa cũng thường nói “nhất nghệ tinh nhất thân vinh”, phải chăng  là để khích  lệ mọi  người trau dồi nghề nghiệp cho tinh xảo. Thực tế cũng như trong tâm thức người thơ, bất cứ nghề nào cũng phải bắt đầu bằng sự phát minh sáng tạo, bằng bàn tay khối óc của một người hay một nhóm người, trải qua nhiều đời tích tụ mà thành. Người ta quen gọi các vị  ấy với  cái tên tổ  sư hay tổ nghề. Nếu tổ nghề là người thật bằng xương bằng thịt nhưng  không còn sự tích rõ ràng hoặc  sự phát minh ra một nghề  là do  nhiều người,  nhiều đời  góp  lại  mà không tìm  được  xuất xứ thì  người  ta sẵn sàng tìm sự viện trợ ở kho tàng thần thoại hay ở biện pháp huyền thoại  hóa.  Tưởng tượng,  hư cấu ra hành trạng  của vị tổ nghề này, công tích của vị tổ nghề kia, không phải là việc làm tùy tiện mà đây là biểu hiện của lòng biết ơn, của sự tôn vinh. Đây vốn là truyền thống đạo lý của người dân Việt Nam, truyền thống “uống nước nhớ nguồn”.

Ở Việt Nam nói đến sự tích, các tổ nghề người ta thường cho rằng các vị phần lớn sống ở thời trung đại và đều đi sứ bên Trung Quốc, học được nghề mới mang về. Có lẽ đây chỉ là một cách nói phản ánh hiện tượng giao lưu văn hóa giữa người Việt Nam  với không chỉ Trung  Quốc  mà còn với các nước khác trong khu vực. Thực tế cho thấy người Việt đã tiếp thu  và  bản  địa hóa được  các  nghề  làm  giấy, nghề in ván, nghề đậu phụ, nghề sứ… từ Trung Hoa, nghề làm thủy tinh, làm đường mía… từ Ấn Độ. Hiện ở Hà Nội có phố hàng Vải Thâm (đoạn phía đông từ phố Thuốc Bắc đến phố Hàng Gà) người ở đây ngày xưa phần đông là dân Huê Cầu:

Ai về Đồng tỉnh Huê cầu,

Đồng tỉnh bán thuốc Huê cầu nhuộm thâm.

Huê Cầu hay Xuân Kiều có thể coi là một ốc đảo Hoa Kiều. Ở làng này còn có đình thờ Hoa kiều lang, còn di tích 4  khẩu giếng đá kiểu Trung Quốc,  dưới  đất còn nhiêu di tích một hương Hoa kiều đời Đường  (Đỗ Văn Ninh:  cuộc đọ sức nghìn năm  của dân tộc  Việt Nam,  tạp chí khảo cổ học,  No 4 -1979,  tr30)

Vả lại nghệ thuật đúc đồng ở ta có từ thời đại Đông Sơn, nghề gốm còn có từ sớm hơn, đâu phải chỉ mới xuất hiện từ thời Trung Đại. Còn việc đi sứ học được nghề mới mang về thì các cụ nhà Nho xưa sang nước người chỉ chăm chú vào việc nộp cống, chuyện làm thơ phú đối đáp để không nhục “quân mệnh” chứ thời gian và điều kiện đâu để học được nghề (đó là còn chưa nói đến sự bất đồng về ngôn ngữ và giấu kín nghề nghiệp).

Nói về sự tôn vinh các vị tổ nghề thực chất đó  là biểu hiện của lòng biết ơn. Ở một làng quê nào đó khi xưa chưa có nghề. Rồi có người đem cái nghề ấy đến, được dân làng ưa thích học theo. Nhờ đó đời sống trở nên khá giả. Nghề nghiệp ngày càng phát triển truyền từ đời nọ sang đời kia, thậm chí truyền sang cả những vùng lân cận, “Ăn quả nhớ người  trồng  cây”  dân  chúng  luôn  nhớ  ơn  thờ phụng  các cụ tổ đem nghề đến cho làng mình chứ không nhất thiết là tổ sư chung của nghề ở mọi nơi vì thế ta không lấy làm lạ cùng một nghề dệt nhưng Vạn Phúc,  Cố  Đô, Phùng  X á … thờ các vị tổ khác nhau. Cùng nghề đồng nhưng Quảng Bố (Bắc Ninh), Đông Mai (Bắc Ninh ), Đề Kiều (Hưng Yên), Trà Đông (Thanh Hóa) không thờ chung một vị tổ.

Làng Vạn Phúc dệt được nhiều loại lụa, sa, đũi
Làng Vạn Phúc dệt được nhiều loại lụa, sa, đũi

Có thể nói việc thờ phụng, tôn vinh tổ nghề  là vấn đềtín  ngưỡng  ở  nước  ta.  Nó  cũng  như  trong  một  gia  đình hay  dòng họ người ta thờ  cúng tổ  tiên  là nhằm tôn vinh một con người có thực, dù người đó không còn nhớ được hành trạng, tên tuổi mà chỉ gọi theo một cách chung là cụ, là kỵ…  còn thờ tổ  nghề  là việc  của một  cộng đồng,  một địa phương, nó liên quan đến tín ngưỡng dân gian. Trong tâm thức mọi người, họ tin rằng giữa họ và tổ nghề có một mối liên hệ vô hình. Ở cõi siêu phàm thần linh giúp nghề nghiệp  vượt  qua  được  những  khó  khăn  để  rồi  tồn tại  và phát triển. Việc thờ phụng tổ  nghề –  dù  là người thật hay nhân  vật huyền  thoại  thì  cốt  lõi  vẫn  là  để  khẳng định và tôn vinh nghề  nghiệp  ấy. Ngày giỗ tổ  nghề,  chính  là dịp, là bằng  chứng  cụ thể  về  vị  trí  của nghề  trong  cuộc  sống con người. Ở đó có những tập tục, những nghi lễ mà cộng đồng đã tạo nên để tôn vinh tổ nghề của mình. Ngày giỗ tổ nghề  bao giờ cũng  là một dịp “trình nghề”.  Ở  đây không có  những nghi  thức  “trình nghề”  chung  chung  như trong các lễ hội nông nghiệp. Trong lễ giỗ tổ người ta đã cố gắng giới thiệu một cách cụ thể những công việc,  những thành tựu của nghề mình, những thành tựu đó  đều  liên quan rất mật thiết đến tổ nghề.


 

Thử nêu một vài ví dụ: Xưa kia hàng năm cứ vào dịp mùng 9,10 tháng giêng (tương truyền đây là ngày vị tổ nghề dời làng quê ra đi dạy nghề mà không trở về nữa) hai thôn An Cốc thượng và An Cốc hạ đều làm lễ giỗ tổ để tưởng nhớ công đức của cụ Tiền tổ sư Thái Luân và hậu tổ sư là người làng mình. Vào những ngày này người An Cốc đi làm giấy ở các làng Yên Thái, Yên H ò a và những nơi khác đều trở về quê để giỗ tổ nghiệp. Lễ tổ làm tại đình làng, hai thôn tổ chức tế, rước và ăn đụng. Nếu năm nay An Cốc hạ rước kiệu lên tế tổ ờ An Cốc thượng thì năm sau An Cốc thượng sẽ lại rước kiệu xuống tế tổ ở An Cốc hạ. Lễ giỗ tổ gồm chè kho, bánh dày, cau và rượu. Vào sáng mùng 9, dân làng sắp một chiếc nồi đồng thật to, đổ mật vào rồi chọn hai chàng trai chưa vợ khỏe đẹp cầm gậy vồ khuấy. Khi mật sủi sùng sục thì cho xôi và đậu rang chín vào làm chè kho. Đây là hình thức tượng trưng cho việc đánh bột giấy ở tầu xeo. Ngoài ra tro n g các buổi lễ dân làng còn cho xôi nếp vào cối, cũng sai 2 thanh niên giã để diễn lại động tác giã dó của nghề tổ. Năm nào chè thơm ngon, bánh dày m ịn trắng, dân làng p h ấn ch ấn và đinh ninh rằng tổ nghề đã chứng giám và phù hộ cho nghề làm giấy làng m ình p h át đạt.

Đối với làng gò đồng Đại Bái ngày giỗ tổ nghề diễn ra với những sác thái riêng rất độc đáo. Dân làng hết sức trân trọng và thành kính đối với ngày 29 tháng 9 âm lịch, ngày mất của vị tiền tiên sư Nguyễn Công Truyền. Làng có một cái lệ rất đặc biệt, tất cả dân chúng kể cả những người làm ở xa cứ đến 49 tuổi (là tuổi ra lềnh) hàng ngày đều phải thắp hương ở đền thờ tổ. Lần lượt năm nay số người đồng niên đến lễ, năm sau là lớp kế tiếp tuổi ấy. Người ở xa không về được có thể gửi hương về nhờ bạn cùng lứa tuổi mình thắp hộ.

Ngày giỗ tổ người các nơi xa đều mang những vật phẩm gò đồng do mình làm đặt trên hương án thờ tả. Việc tế tổ được giao cho người đứng đầu ở các họ lớn, là những người đứng đầu phường nghề ở các xóm. Những vị đứng đầu ấy gọi là các cụ trùm, hương trùm hay là nóc các cụ trùm. Chỉ nóc các cụ trùm mới được giao vai tế chủ còn lý dịch chức sắc hay quan viên trong làng  không được đảm nhận trọng trách này vì họ không đại diện cho nghề.

Lễ vật dâng lên trong ngày tế tổ gọi là cỗ soạn, mỗi xóm biện hai mâm, ngoài ra có thêm xôi gà oản quả bánh trái…

Sau khi lễ tổ xong, cỗ soạn dành để kính các cụ trùm, còn lý dịch chức sắc tư văn không được dự những cỗ ấy mà chỉ được dự những mâm xôi gà oản quả do các xóm mang ra. Trong bài văn tế tổ cũng như trong cuộc sống đời thường cả làng phải kiêng tên húy của cụ tổ nghề, không ai được nhắc đến chữ “truyền”. Họ dặn dò nhau học theo nghề cũ chứ không dám truyền nghề. Họ chỉ giành danh hiệu cao quý “thầy” cho vị tổ nghề, còn đổi với nghệ nhân dù xuất sắc đến đâu, khi dạy bảo cho con cháu hay làng xóm không ai coi đó là thầy cả.

Nghề nghiệp không chỉ thể hiện trong dịp giỗ tổ, trong tình cảm đối với tổ nghề mà nó còn ăn sâu vào trong nếp nghĩ, trong sinh hoạt của người Đại Bái. Con trai làng lấy vợ được của hôi môn là một cái búa và một chiếc đe. Ngày rước dâu, đi sau cụ già cầm hương là một ông già cầm búa và một bà già cầm đe cùng với một thiếu nữ vác đôi chiếu hoa mới. Lễ nộp treo nhà trai phải tự làm lấy: một đôi mâm đồng chứ không được mua của người khác… Việc hành nghề của các gia đình trong làng cũng theo những quy định rất nghiêm ngặt. Giờ đỏ lò là một giờ rất quan trọng, người ta còn gọi là giờ khai nghiệp. Mở đầu giờ ấy phải đốt một bánh pháo rồi ra tháp hương ở đền thờ tổ …



BÀI VIẾT LIÊN QUAN