Những điều bạn chưa biết về phố cổ Hội An

Khái quát về đô thị cổ Hội An

Phố cổ Hội An nằm bên bờ sông Thu Bồn, cách Tp. Đà Nẵng 30km về phía nam. Diện tích tổng cộng khu phố cổ chỉ rộng khoảng 2km2, chiều ngang của khu phố cổ được giới hạn từ bờ sông (tức đường Bạch Đằng) đến ngã tư giữa đường Nguyễn Thái Học và đến đường Trần Phú nối với đường Nguyễn Duy Hiệu.

Chiều dài của phố cổ Hội An được xây dựng được xác định theo lối dân gian “thượng chua, hạ cầu” hay “âm bổn”.

Phố cổ Hội An
Phố cổ Hội An

Phố cổ Hội An nằm trên miền đất có một bề dày lịch sử lâu đời. Từ hơn năm trước, ở đây đã tồn tại nền văn hóa Sa Huỳnh. Nền văn hóa mà người xưa đã biết khai thác biển, đồng bằng ven biển và vùng đồi núi liền kề. Các di chỉ khảo cổ điển hình của nền văn hóa này là các mộ hình chum. Nền văn hóa Chăm-pa sau này được coi là tiếp nối của nền văn hóa Sa Huỳnh.

Từ thế kỷ III, Hội An nằm trong vùng đất của vương quốc Chăm-pa, cách kinh đô Trà Kiệu khoảng 40km về phía tây. Vương quốc này đã có những thế kỷ phát triển huy hoàng về kinh tế và văn hóa

Khi đó Hội An vừa là một tiền đồn vừa là một thương cảng, giao thương buôn bán với nhiều quốc gia trong khu vực với tên Đại Chiêm Hải Khẩu. Tiếp sau đó là các thế kỷ tranh chấp, chiến tranh liên miên giữa Chăm-pa với các nước xung quanh.

Đến đầu thế kỷ XIV (năm 1306), Hội An đã thuộc về Đại Việt. Kinh đô của vương quốc Chăm-pa sau đó lùi dần về phía nam. Dần dần người Việt đã đến định cư ở vùng đất này rồi xây đựng làng mạc.

Đến thế kỷ XVI – XVII, Hội An đã phát triển thinh vượng, trở thành thương cảng lớn do có những điều kiện thuận lợi như:

Thuận lợi về vị trí địa lý, nằm ở cửa sông Thu Bồn, trong vùng kinh tế trù phú, gần biển, cách thủ phủ Đàng trong khoảng 100km, cộng với những điều kiện thuận lợi trong nước và quốc tế.

Các chúa Nguyễn trong thời kỳ này cần có tiềm lực về kinh tế, quốc phòng vững mạnh để dấy nghiệp, nên tăng cường việc trao đổi hàng hóa, buôn bán với thương nhân của các nước, đẩy mạnh hoạt động giao thương trong nước.

Đây cũng là thời kỳ đại hàng hải trên thế giới. Các công ty tàu biển của châu Âu tìm đường đến các nước châu Á để buôn bán. Các thuyền buôn của các nước Hà Lan, Anh, Pháp, Bồ Đào Nha đã đến đây mở thương điếm buôn bán.

Nhà Minh ở Trung Quốc bắt đầu mở cửa buôn bán với Nhật, nhưng vẫn cấm một số mặt hàng xuất khẩu sang Nhật. Thương gia của hai nước này đã tìm đến Hội An, Phố Hiến để trao đổi hàng hóa. Tàu buôn của các nước Đông Nam Á cũng tìm đến Hội An để buôn bán.

Khi nhà Thanh thay thế nhà Minh, nhiều thương nhân, quan lại, binh sĩ phù Minh đã tìm đến Việt Nam cư trú, được các chúa Nguyễn cho định cư ở Hội An. Các giáo sĩ Thiên chúa giáo cũng theo các thuyền buôn các nước châu Âu đến đây truyền giáo. Vì vậy Hội An đã phát triển sầm uất, thịnh vượng với những dãy phố của người Nhật, người Hoa, bến cảng, thưởng điếm, nhiều công trình kiến trúc tôn giáo. Hội An được người phương Tây biết đến với tên Faifo.

Hội An đã phát triển sầm uất
Hội An đã phát triển sầm uất

Năm 1636 là thời điểm do lệnh cấm vận trong nước, các thương nhân Nhật đã không tới Hội An nữa và thương nhân Nhật ở đây cũng rời Hội An.

Đến cuối thế kỷ XIX Đàng trong có nhiều biến cố chính trị, cuộc nội chiến giữa nhà Tây Sơn với chúa Nguyễn đã tác động xấu đến việc buôn bán ở Hội An, đánh dấu sự suy thoái của thương cảng này. Đồng thời trong thời gian này, cửa sông lại bị sa bồi, lòng sông cổ Cò, đoạn nối Đà Nẵng với Hội An lại bị bồi lấp, tàu thuyền ra vào thương cảng khó khăn.

Đến thời nhà Nguyễn vào thế kỷ XIX, triều đình lại có chính sách quy định mọi thuyền buôn chỉ được phép cập bến Cửa Hàn, mặt khác thời kỳ này nhà Nguyễn lại thực hiện chính sách trọng nông.

Thế kỷ XVIII – XIX là thời kỳ cách mạng công nghiệp ở châu Âu, sau đó là cuộc chinh phục, xâm lược các thuộc địa, các mặt hàng và thi trựờng trao đổi buôn bán của các nước này đã chuyển hướng sang các địa bàn mới.

Năm 1888, sau cảng Hải Phòng, cảng Đà Nẵng có quyết định được thành lập. Từ đó đã đặt dấu chấm hết cho vai trò thương cảng ngoại thương của Hội An. Tuy nhiên Hội An vẫn giữ chức năng là đô thi, là một thị trường địa phương, trở thành vệ tinh sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, cung cấp hàng hóa cho Đà Nẵng.

Trải qua nhiều biến cố lịch sử của các cuộc chiến tranh, sự nghiệt ngã của thiên nhiên lũ bão, nhưng Hội An vẫn tránh né được sự tàn phá, giữ được nhịp sống yên ả, thanh bình. Đến nay Hội An vẫn bảo tồn gần như nguyên vẹn những công trình kiến trúc nghệ thuật, những khu phố cổ kính.

Cuối thập niên 80 sau khi thực hiện chính sách mở cửa, khách du lịch trong nước và quốc tế đã bị cuốn hút bởi khu phố cổ kính, yên bình của Hội An. Hội An đã được hồi sinh và tôn vinh.

Di sản văn hóa đô thi cổ Hội An là một hình mẫu về việc bảo tồn, tôn tạo nguyên vẹn, tổ chức các hoạt động du lịch theo hướng phát triển bền vững tốt. nhất so với các khư phố cổ ở nước ta.

Các hoạt động du lịch ở đây được tổ chức, quản lý, có kiểm soát chặt chẽ, mang tính giáo dục cao, hoạt động du lịch cộng đồng được quan tâm phát triển, đã tạo ra một môi trường du lịch văn minh, lịch sự, hấp dẫn du khách.

Nguồn lợi từ du lịch được phân phối hợp lý (các điểm tham quan thì người dân được chia sẻ 10% giá vé thắng cảnh), các mặt hàng bày bán ở phố cổ được niêm yết giá cả thống nhất, tạo niềm tin cho du khách. Để giữ cho phố cổ yên tĩnh, các loại xe có động cơ đã không được đi vào trong khu phố cổ.

Việc trùng tu các di tích là nhà cổ được Nhà nước hỗ trợ 70% kinh phí, người dân bỏ ra 30% kinh phí, có quy hoạch và quản lý.

Các cấp lãnh đạo địa phương đã quan tâm tới việc tổ chức các lễ hội, công tác thống kê nghiên cứu, bảo tồn và tuyên truyền, quảng bá hình ảnh của Hội An. Tất cả góp phần bảo tồn nguyên vẹn, tôn vinh di sản văn hóa phố cổ Hội An, tạo ra sức hấp dẫn kỳ lạ của phố cổ với du khách.

Một số giá trị và đặc điểm nổi bật của phố cổ Hội An

Phố cổ Hội An đến nay vẫn bảo tồn khá nguyên vẹn một quần thể di tích kiến trúc đa dạng về loại hình, phong phú về số lượng, có tới 1.310 di tích các loại, trong đó có nhiều nhất là di tích kiến trúc nghệ thuật với 1.229 đi tích, gồm nhiều loại như đình, chùa, hội quán, lăng miếu, nhà thờ thọ, nhà cổ, cầu, bến sông, chợ..

Phố cổ Hội An được xây dựng theo hình bàn cờ, đường phố hẹp, các phố chạy dọc theo chiều đông tây là Bạch Đằng, Nguyễn Thái Học (tên cũ là phố Quảng Đông, phố Trần Phú (xưa gọi là phố Cầu Nhật Bản), phố Minh Khai (phố Khải Định cũ)…

Các phố chạy theo chiều bắc – nam như Trần Quý Cáp (phố chợ xưa), Lê Lợi (xưa gọi là phố Hội An), Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Huệ và Hai Bà Trưng.

Những giá trị về kiến trúc mỹ thuật nói riêng và về những di sản văn hóa của phố cổ Hội An nói chung thể hiện sự giao thoa giữa văn hóa Trung Hoa, văn hóa Nhật Bản với văn hóa bản địa, tạo nên sắc thái văn hóa độc đáo của Hội An.

Bố cục mặt bằng các di tích kiến trúc của Hội An đan xen nhau, nằm hai bên đường phố tạo nên một tổng thể kiến trúc hài hòa, nhưng không dàn trải, đơn điệu, phù hợp với chức năng của từng công trình.

Bố cục mặt bằng các di tích kiến trúc của Hội An đan xen nhau
Bố cục mặt bằng các di tích kiến trúc của Hội An đan xen nhau

Các di tích kiến trúc ở đây đều có độ cao khiêm tốn, thường là một tầng, hoặc 2 tầng, hài hòa với nhau, tạo thêm sự cổ kính, duyên dáng.

Các vật liệu xây dựng đều là những vật liệu truyền thống quý như ngói âm dương, gỗ cẩm lai, gỗ lim, gạch nung…

Kết cấu khung gỗ trong kiến trúc ở Hội An thường theo kiểu “chồng rường, giả thủ, các bộ phận nối với nhau theo hình “vỏ cua”, có sự kết hợp các vi kèo khéo léo, các kết cấu khung gỗ thường được làm mộc, chau chuốt, ít nét chạm trổ và thường được sơn màu nâu đen.

Đề tài trang trí trong các công trình kiến trúc cổ ở đây là tứ linh, tô quý, hoa lá, động vật, đặc biệt là đề tài cá chép, lân, có liên quan nhiều tới văn hóa Trung Hoa, Nhật Bản. Số lượng hoành phi, câu đôi sơn son thiếp vàng, khảm trai, ốc, lộng lẫy được trang trí trong các công trình kiến trúc cổ ở đây cũng khá nhiều.

Một số di tích kiến trúc tiêu biểu ở Hội An

Hầu hết các di tích kiến trúc có giá trị của Hội An thu hút sự tham quan của du khách đều phân bố trên 3 phố chính là Trần Phú, Nguyễn Thái Học và Bạch Đằng.

Theo công năng có thể chia di tích kiến trúc Hội An thành 3 nhóm:

Nhóm các công trình dân dụng (nhà cổ)

Nhóm các công trình tín ngưỡng.

Nhóm các công trình có công năng đặc thù.

Nhà Cổ

Ở Hội An các di tích nhà cổ có 2 loại là nhà Phố và nhà Rường. Chỉ riêng nhà Phố đã có tới 82 nhà hình ống được xếp hạng di tích lịch sử đặc biệt và bảo tồn tuyệt đối.


Nhà Phố là nhà có kiến trúc hình ống được bố trí liền kề, chiều ngang hẹp, thường từ 4 – 6,5m, dài trên 40m.

nhà Phố
nhà Phố

Chức năng của loại nhà này là để buôn bán, cất trữ hàng hóa, sinh hoạt. Phía trước ngôi nhà giáp đường là cửa hiệu để buôn bán, Nhà Cổ kết cấu khung gỗ chịu lực, xây tường gạch, lợp ngói âm dương.

Bố cục ngôi nhà từ ngoài vào trong là: nhà – sân – nhà. Nền sân thấp hơn nhà để dễ thoát nước. Sân là nơi đón ánh sáng, không khí và thoáng gió. Trên một phần sân có “nhà cầu” nối liền nhà trước với nhà sau.

Những ngôi nhà này thường có 2 tầng, hoặc một tầng gác xép. Tầng dưới là nơi buôn bán sinh hoạt, thường có 3 gian và lối đi ở giữa, tầng trên là nơi cất giữ hàng để tránh lụt lội. Phần nhiều các ngôi nhà này không có cầu thang nối liền lên tầng hai, thường dùng cầu thang rời và có cửa sập. Một số làm cầu thang nhưng để tiết kiệm diện tích nên rất hẹp.

Phía trước cửa thường treo mắt thần để trừ tà ma và có hàng hiên rủ được điêu khắc tinh xảo như những bức rèm đăng ten để che nắng mưa, treo đèn lồng và trang trí. Cửa ra vào thường làm kiểu “thượng song hạ bản” có ván lùa.

Nhà Rường

Nhà Rường thường được xây dựng ở các làng ngoại thị như Cẩm Châu, Cẩm Hà, Cẩm Thanh. Đây cũng là kiểu nhà thấy nhiều ở Huế, Trà Kiệu. Đặc điểm riêng của loại nhà này so với kiểu kiến trúc nhà cổ ở Việt Nam là ở hình thức kết cấu của bộ vì nóc. Thông thường nhà chính có từ 3 – 5 gian, trước là sân, hai bên có hai nhà phụ quay vào sân, xung quanh có vườn cây trái

Nhà Rường thường được xây dựng ở các làng ngoại thị như Cẩm Châu
Nhà Rường thường được xây dựng ở các làng ngoại thị như Cẩm Châu

Ở Hội An có một số ngôi nhà cổ thu hút sự tham quan của du khách sau:

Nhà Cổ Quân Thắng

Nhà Cổ Quân Thắng ở số 77 phô Trần Phú, được xây dựng và trùng tu từ cuối thế kỷ XIX, thuộc loại nhà hình ống, dài 50m, rộng 5,9m. Có các nếp nhà nối với nhau chạy từ mặt phố Trần Phú sang phố Nguyễn Thái Học. Khi phố Nguyễn Thái Học còn năm sát bờ sông thì nhà có kết cấu 3 phần có 3 chức năng khác nhau: Phần nằm sát bờ sông dùng làm kho chứa hàng, hướng về cầu cảng gần bến đỗ của tàu thuyền, Nếp nhà phía phố Trần Phú dùng làm nơi sinh hoạt, thờ cúng của gia đình. Nhà 3 gian hẹp, thưng ván gỗ ngăn cách phía trong và phía ngoài, nay mặt đường Trần Phú dùng làm nơi buôn bán.

Nhà Cổ Quân Thắng
Nhà Cổ Quân Thắng

Về trang trí: Ngôi nhà có trang trí ngoại thất đẹp, đặc biệt là các ván quanh sân “Thiên, tỉnh”, ở đây có vách chia làm nhiều ô hộc vuông và chữ nhật, có chạm khắc “tứ linh, tứ quý^, những đầu bẩy nhà chạm cá chép, con sóc, cành nho. Tất cả những hình ảnh chạm khắc rất sông động, hài hòa với những bồn hoa cây cảnh ở mảng tường xây phía ngoài.

Nhà cổ Phùng Hưng

Nhà cổ Phùng Hưng
Nhà cổ Phùng Hưng

Ở số 4 Nguyễn Thị Minh Khai. Đây là ngôi nhà do người Việt xây dựng cách đây 200 năm, lưu truyền qua nhiều thế hệ. Phong cách kiến trúc của ngôi nhà có sự kết hợp giữa phong cách kiến trúc Việt Nam – Nhật Bản và Trung Hoa.

Nhà được kết cấu khung gỗ, tạo dựng và chạm trổ chau chuốt bởi bàn tay tài hoa của những người thợ mộc Kim Bồng. Toàn bộ ngôi nhà được đứng trên 80 cột gỗ, trên các chân tảng bằng đá, nhìn từ ngôi nhà ta cố thể cảm nhận được lối kiến trúc của nhà cổ Hội An.

Nhà cổ Tân Kỳ

Nhà cổ Tân Kỳ
Nhà cổ Tân Kỳ

Ở số 101 Nguyễn Thái Học. Đây là ngôi nhà có lối kiến trúc tiêu biểu cho kiến trúc nhà cổ Hội An, đẹp, tinh xảo, được làm từ năm 1741. Đây là ngôi nhà được bảo tồn tốt nhất ở Hội An.

Các di tích tôn giáo tín ngưỡng ở Hội An

Hệ thống các di tích tôn giáo tín ngưỡng ở đây mang sắc thái riêng, thể hiện tổng hòa phong cách kiến trúc mỹ thuật, quan niệm tôn giáo tín ngưỡng của cư dân Nhật Bản, Trung Hoa và Việt Nam. Thể hiện ở các hội quán, chùa, miếu, đình.

Hội quán

Hội quán cũng là nơi thờ các vi thần của người Hoa và cũng là nơi diễn ra sinh hoạt cộng đồng của họ ở Hội An.

Hội quán
Hội quán

Người Hoa đến Hội An từ 5 tỉnh của Trung Hoa là: Quảng Đông, Triều Châu, Gia ứng, Hải Nam và Phúc Kiến. Trong thế kỷ XVII – XVIII họ đã xây dựng 4 hội quán cho các bang và một hội quán cho tất cả cộng đồng người Hoa ở Hội An. Các hội quán của người Hoa ở đây còn được gọi là chùa Trung Hoa, đều tọa lạc ở phía bắc đường Trần Phú và Nguyễn Huy Liệu hiện nay.

Về mặt kiến trúc, các hội quán đều có quy mô lớn, bố trí kiểu “tiền tế, hậu tế” Từ ngoài vào gồm: cổng vòm lớn, nhiều tầng, mái uốn cong, đến sân rộng có trang trí hòn non bộ làm tiền án. Hai bên sân là hai nhà phục thờ Tả thần, Hữu thần; tiếp đến là phương đình – nơi tế lễ, hội họp; trong cùng là chính điện. Kết cấu bộ khung của hội quán theo kiểu “chồng rường giả nhưng có hình dáng điêu khắc khác nhau giữa các công trình. Cánh cửa và bộ khung gỗ được chạm thủng mềm mại, tinh xảo, sơn son thiếp vàng và sơn các màu xanh, đỏ, vàng, với quan niệm triết lý của người Hoa.

Mái của hội quán lợp ngói thanh lưu ly, các vật liệu xây dựng, đồ tế tự được mua từ Trung Hoa mang sang.

Tín ngưỡng thờ phụng và đề tài trang trí mỹ thuật mang màu sắc tín ngưỡng và phong cách Trung Hoa, của những người đi biển.

Rồng trang trí được sòn màu xanh, tạo tác rồng dài, nhiều khúc, vẩy xuôi, râu dài, trước các hội quán có tạc hai con lân, một con đực ôm quả cầu, con cái ôm đàn con biểu trưng của hạnh phúc. Các hội quán còn được trang bị bởi các bức phù điêu, các bức tranh mô tả con thuyền đi biển gặp sóng to, gió lớn.

Vị thần thờ ở các hội quán Trung Hoa thường là Thiên Hậu Thánh Mẫu, vị thần luôn cứu giúp người đi biển vượt đại dương an toàn, 6 vị tướng nhà Minh trung kiên, anh dũng chống lại nhà Thanh, hay các nhân vật lịch sử của Trung Hoa như Quan Vân Trường…

Hội quán Phúc Kiến (chùa Phúc Kiến)

Hội quán Phúc Kiến (chùa Phúc Kiến)
Hội quán Phúc Kiến (chùa Phúc Kiến)

Hội quán tọa lạc ở số 46 phố Trần Phú, theo các nhà quản trị ở đây, hội quán do người Phúc Kiến ở Hội An xây dựng vào năm 1697. Tam quan được trùng tu năm 1990.

Hội quán có kiểu kiến trúc chữ “Tam”, sâu tới 120m được bố trí theo trục dọc: cổng – sân – hồ nước cây cảnh, hai bên là nhà đông – tây, chính điện, sân, hậu điện. Tại chính điện thờ Thiên hậu Thánh Mẫu, bên trái thờ tam thập lục tướng Vương gia, bên phải thờ ba bà chúa sinh thái. Lấy tích Phong thần: Vân Tiên, Quỳnh Tiên, Bích Tiêu và 12 bà mục sinh thai. Hậu điện thờ lục tướng Vương gia.

Hội quán Trung Hoa

Hội quán tọa lạc ở số 64 phố Trần Phú, xây dựng từ năm 1741, được người Hoa ở đây chọn làm nơi sinh hoạt chung cho người Hoa đến từ 5 tỉnh của Trung Quốc ở Hội An.

Ban đầu hội quán này có tên là “Dương thương hội quán”. Hội quán được trùng tu lần thứ nhất vào năm 1853 và được đổi tên thành ‘Trung Hoa hội quán”, lần trùng tu thứ 2 vào năm 1929 lại đổi tên thành “Trường lễ nghĩa”.

Hội quán Trung Hoa
Hội quán Trung Hoa

Hội quán có kiến trúc theo lối chữ “Quốc”, vật liệu chủ yếu bằng đá, xi măng, ngói ông xi măng, sơn màu. Mặt tiền hội quán xây kiểu chữ “Tam” được chạm trổ tinh xảo, công phu.

Mái nhiều tầng phía trên trang trí rồng chạy dọc trên mái. Xung quanh được trang trí điêu khắc, chạm lộng, cảnh tứ linh, tứ quý, hoa quả, chim muông đan xen. Tiếp đến là sân rộng, hai bên là nhà Tả thần, Hữu thần, song song với nhà tiền sảnh ở phía sau là chính điện, ở giữa có kê hương án ,thờ được chạm trổ tinh vi theo lối chạm lộng. Bên phải có đặt tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu, bên trái đặt tượng Thiên Lý Nhãn.                            .

Hội quán Quảng Triệu (Hội quán Quảng Đông)

Hội quán do người Quảng Đông (Trung Quốc) ở Hội An xây dựng năm 1855,  tọa lạc tại 176 phố Trần Phú. Hội quán được trùng tu vào năm 1915 và 1990.

Hội quán được kiến trúc theo lối chữ “Quốc”, có quy mô to lớn, hoành tráng, ở đây còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ như 4 bức hoành phi lớn, 1 lư hương bằng đồng cao 1,6m, rộng 0,6m, 2 chiếc đôn sứ men ngọc Trung Quốc và nhiều tư liệu quý về cộng đồng người Hoa ở Hội An.

Hội quán Quảng Triệu (Hội quán Quảng Đông)
Hội quán Quảng Triệu (Hội quán Quảng Đông)

Chùa ở phố cổ Hội An

Ở Hội An còn lưu giữ 23 ngôi chùa, loại hình kiểu chùa thường tập trung vào hai loại bố cục mặt bằng

Loại 1: gồm 2 nếp nhà song song nhưng không gian nội thất nối liền làm một như chùa Hải Tạng được xây dựng từ thế kỷ XVIII và chùa Giáp Viên, được xây dựng từ thế kỷ XIX.

Loại 2: Chùa gồm nhà đại bái, nối liền với tòa thượng điện, có bình độ chữ “Đinh” như chùa Chúc Thánh, được xây dựng từ thế kỷ XVIII, chùa Vạn Đức được xây dựng từ thế kỷ XVIIL

Chùa là công trình kiến trúc tôn giáo có chức năng thờ Phật, song do sự giao thoa về văn hóa, tín ngưỡng nên nhiều ngôi chùa ở Hội An còn thờ cả các vị thần thánh có nguồn gốc từ Trung Hoa, Nhật Bản như Thiên Hậu Thánh Mẫu, ông Chú, Bà Mụ, Thần Tài, ông Bổn, Quan Vân Trường, Bắc Đế Đại Vương và nhiều linh vật có nguồn gốc từ Nhật Bản, Trung Hoa.

Về nghệ thuật kiến trúc mỹ thuật, các ngôi chùa ở Hội An cũng thể hiện sự kết hợp phong cách kiến trúc mỹ thuật của Trung Hoa, Việt Nam và Nhật Bản.

Chùa Ông (còn gọi là miếu Quan Công)

Chùa tọa lạc ở số 24 phố Trần Phú. Đây là một di tích lịch sử văn hóa được xây dựng sớm ở Hội An vào năm 1653.

Chùa Ông (còn gọi là miếu Quan Công)
Chùa Ông (còn gọi là miếu Quan Công)

Chùa thờ Quan Vân Trường, một vị tướng thời Tam Quốc (Trung Quốc), một tấm gương về lòng trung hiếu, tiết nghĩa, Chùa được xây dựng theo kiểu chữ “Quốc”, có kết cấu kiến trúc vì kèo, mái lợp ngói, tráng men màu xanh, bờ nóc đắp hoa chanh, hình rồng, nghê bằng các mảnh sứ. Chùa được trùng tu vào các năm 1827, 1864, 1904, 1966. Hiện chùa còn giữ một số cổ vật quý như các sắc phong, 33 bức hoành phi, 10 câu đối, tượng Quan Công, Quan Bình, Quan Thương và nhiều đồ tế lễ. Chùa Ông là một di tích kiến trúc tôn giáo hấp dẫn du khách tham quan.

Chùa Cầu

Chùa Cầu, vừa có chức năng là cầu, vừa là nơi thờ thần bảo bộ xứ sở Bắc Đế Đại Vương. Chùa đồng thời là cây cầu bắc qua con rạch chảy ra sông Thu Bồn, giáp giữa đường Nguyễn Thị Minh Khai và đường Trần Phú.

Chùa Cầu
Chùa Cầu

Chùa được xây dựng vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII do các thương nhân người Nhật làm nên gọi là chùa Nhật Bản, cầu được xây dựng theo lốỉ kiến trúc “thượng gia hạ kiểu”, một kiểu kiến trúc kỳ công, có trình độ nghệ thuật cao, trên là nhà, dưới là cầu. Cầu được làm bằng gỗ ghép lại, dài 18m, lòng rộng 3m, có lề đường 2 bên. Mái chùa lợp ngói âm dương che kín 7 gian cầu, kết cấu gỗ đều được sơn son, chạm trổ công phu. Hai đầu cầu có tượng khỉ và chó là những linh vật được thờ ở đây. Phần chính giữa thờ thần Bắc Đế Đại Vương, là vị thần bảo hộ xứ sở ban niềm vui, hạnh phúc và sự an bình cho con người. Giữa lòng cầu nhìn sang hướng Bắc, ngăn cách phần cầu với chùa, có bộ cánh cửa kiểu “thượng song hạ bản”, chạm trổ tinh xảo. Trên cửa chính vào chùa có tấm biển đề “Lai Viễn kiểu”, ngự bút của chúa Nguyễn Phúc Chu nhân dịp đi thăm Hội An vào năm 1719.

Chùa được trùng tu vào các năm 1763, 1817, 1865, 1915, 1981 và 1997.

Chùa Cầu là một di tích có giá trị cao về văn hóa và lịch sử, như một bằng chứng sát thực về một thời người Nhật đã từng cư trú, buôn bán ở Hội An và là một biểu trưng văn hóa Nhật Bản ở Hội An, là điểm tham quan không thể thiếu của du khách khi đến thăm Hội An.


Chùa Chúc Thánh

Chùa Chúc Thánh
Chùa Chúc Thánh

Chùa tọa lạc ở phường Cẩm Phố, thị xã Hội An, cách trung tâm Phố cổ Hội An khoảng 2km theo đường Huỳnh Thúc Kháng.

Chùa được xây dựng vào cuối thế kỷ XVII theo lối kiến trúc chữ “Tam”,kết hợp phong cách kiến trúc truyền thống của Trung Hoa và Việt Nam, chạm khắc kỳ công. Trong chùa có nhiều tượng lớn. Ở chính điện có tượng Tam Thế, Di Lặc, 18 vị La Hán, trước sân có tượng Quan Thế Âm Bồ tát. Trong khuôn viên của chùa còn tháp mộ của các vị sư trụ trì của chùa.

Chùa được trùng tu vào các năm 1956,1964. Chùa nổi tiếng là nơi khỏi thủy ra chi phái Thiền Chúc Thánh của Thiền Lâm Tế.

Nhà thờ họ ở Hội An

Ở Hội An còn lưu giữ 18 nhà thờ các dòng họ, thể hiện lòng kính nhớ tổ tiên, uống nước nhớ nguồn của người Việt.

Nhà thờ họ ở Hội An phần lớn bố cục mặt bằng hình chữ “Nhị”, gồm 2 nếp nhà song song nối mái vào nhau. Nhà tiền sảnh, kiến trúc thường là 3 hoặc 5 gian, gian trong là chính tẩm được dựng lên để đặt bàn thờ, kết cấu được chú ý trang trí nhiều hơn.

Nhà thờ họ Nguyễn

Nhà thờ họ Nguyễn tọa lạc ở xã Cẩm Hà, chủ nhà là Nguyễn Diên. Nhà được kết cấu mặt bằng hình chữ “Nhất”, làm theo kiểu nhà Rường 2 gian 3 chái, 7 hàng cột. Nhà xưa vốn bên Kim Bồng, dòng họ Nguyễn mua cách đây 5 đời có niên đại thế kỷ XIX và được tu sửa vào các năm 1931 và 1970.

Nhà thờ họ Trần

Nhà thờ họ Trần
Nhà thờ họ Trần

Nhà thờ họ Trần toạ lạc tại số 21 phố Lê Lợi. Nhà được một vị quan tên là Trần Từ Nhạc làm cách đây trên 200 năm, trước khi ông được cử đi xứ sang Trung Quốc cuối năm 1802. Ông xây nhà muốn báo hiếu tổ tiên, đồng thời để lại kỷ vật cho con cháu.

Ngôi nhà nằm trong khuôn viên rộng 1.500m2, có tường bao quanh, về mặt kiến trúc chịu ảnh hưởng của phong cách kiến trúc Trung Hoa và Nhật Bản. Ngôi nhà gồm 2 phần, phần chính để thờ cúng và phần phụ bên cạnh để vị tộc trưởng hoặc khách ở. Gian thờ cúng có 3 cửa, cửa giữa dành cho ông bà đi, chỉ mở vào dịp lễ, tết. Còn 2 cửa nam tả và nữ hữu. Phía sau ngôi từ đường có mô đất cao là nơi chôn nhau cắt rốn. Tất cả đều được xây dựng theo nguyên tắc phong thủy.

Bà con trong dòng họ thường đến thắp hương, tưởng nhớ tổ tiên. Trên bàn thờ chính có các hộp nhỏ được xếp thứ tự, đựng di vật và tiểu sử của người đã khuất, khắc bằng tiếng Hán.

Trong những ngày húy kỵ, vị tộc trưởng sẽ mở những hộp gỗ này ra, những thành viên trong dòng họ sẽ đến đây ở tưởng nhớ, biết ơn những người quá cố.

Ngoài các loại di tích kiến trúc trên, ở đô thị cổ Hội An còn có 11 ngôi đình niên đại phổ biến từ thế kỷ XIX, 12 ngôi đền và 18 ngôi miếu, 21 giếng cổ và cũng được xếp hạng di tích đặc biệt và bảo tồn tuyệt đối.

Các lễ hội

Bên cạnh các di sản văn hóa vật thể, phố cổ Hội An còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa phi vật thể như các lễ hội đặc sắc, nhiều món ăn đặc sản…

Lễ hội Long Chu

Lễ hội Long Chu là lễ hội của làng biển quanh thị xã Hội An. Đây là lễ hội của các cư dân vùng biển Hội An để tông ôn và dịch bệnh vào lúc chuyển mùa.

Lễ hội được tổ chức vào ngày 15-4 âm lịch hằng năm ở đình làng hoặc nhà chính quyền, thôn ấp. Trong dân gian “Long Chu” là thuyền rồng, một biểu tượng oai linh để trừ ôn, tông dịch. Lễ hội có tục rước “Long Chu” (thuyền rồng) bằng cốt tre, giấy vải từ đình đến bến nước, sau đó thuyền trôi ra biển.

Lễ hội Long Chu
Lễ hội Long Chu

Trước ngày lễ, các thầy pháp đặt hương án và yểm bùa nơi có ma quỷ, theo sau là cả đoàn nam nữ thanh niên tay cầm giáo mác, phát quang sạch sẽ đường làng, bờ bụi, miệng hát hò, đối đáp trong không khí vui vẻ. Vào ngày lễ chính, thầy cả làm lễ tế và sau đó là lễ rước thuyền rồng đi trừ tà ma dịch tế quanh làng. Trong lễ có hát Bội, hát Hò khoan, Xô cô, các trò chơi dân gian khác. Dân làng quần tụ ăn uống, múa hát đến tận đêm khuya

Lễ hội Cầu Bông

Lễ hội Cầu Bông được tổ chức vào một ngày đẹp trời, thuận tiện của mùa xuân hằng năm, tại sông Hội An hoặc đoạn gần cửa Đại. Lễ hội cầu Bông có ý nghĩa như một nghi lễ mở mùa cho một năm mới. Trong lễ hội luôn luôn có tiết mục đua ghe vừa là thi tài, vừa là cầu cho dân được mùa, nhà nhà bình an và thịnh vượng. Lễ hội cầu Bông là lễ hội được đông đảo nhân dân tham gia.

Lễ hội Cầu Bông
Lễ hội Cầu Bông

Lễ tế cá Ông (cá voi)

Thường được tổ chức tại lăng Ông vào ngày kỵ (ngày mất) của cá Ông hoặc có cá Ông chết. Lễ tế cá Ông có nguồn gốc tín ngưỡng nguyên thủy của cư dân vùng duyên hải miền Trung. Nghi lễ thờ cũng giống như nghi lễ cúng tế các vi thần ở miền Bắc, Người dân miền biển thờ thần cá Ong như là một vị thần bảo hộ cho làng chài. Sau lễ tế có tổ chức hát Bả trạo, hát Bội và hát Hò khoan, nhiều nơi còn tổ chức lễ hội đua ghe để động viên sức mạnh cộng đồng và biểu hiện nghi lễ thờ nước.

Lễ Nguyên Tiêu

Lễ Nguyên Tiêu tổ chức tại hội quán Triều Châu và Quảng Triệu vào ngày 16-1 âm lịch. Đây là lễ cúng đầu năm của hai bang Triều Châu và Quảng Đông. Ngoài phần nghi lễ truyền thống, trong lễ Nguyên Tiêu còn tổ chức múa lân, rồng, chơi xổ số. Lễ hội đã thu hút con cháu người Hoa và khách thập phương về dự

Lễ vía bà Thiên Hậu

Lễ Vía Bà Thiên Hậu của người Hoa sinh sông tại Hội An, tổ chức tại hội quán Phúc Kiến và Ngũ Bang vào ngày 23 – 3 âm lịch hằng năm để cúng một vị nữ thần chuyên cứu trợ tàu thuyền mỗi khi gặp nạn trên biển. Lễ hội gồm 2 phần: phần lễ được tổ chức theo nghi lễ truyền thông của người Hoa sau đó là phần hội và có múa lân, xin thẻ. Trong khuôn viên rộng được trang hoàng rực rỡt con cháu và khách thập phương tham dự lễ hội rất đông.

Lễ hội đèn lồng

Làm đèn lồng là nghề thủ công truyền thống ở đây. Từ khi phố cổ Hội An được công nhận là Di sản văn hóa thế giới thì nghề này được phát triển mạnh, sản xuất ra nhiều loại đèn màu sắc sặc sỡ khác nhau, được du khách ưa chuộng. Treo đèn lồng và thắp đèn lồng là nét văn hóa đặc trưng của Phố cổ Hội An.

Để tạo ra vẻ đẹp lung linh sắc màu của phố cổ, những năm gần đây, cứ đến đêm 14 âm lịch hằng tháng tất cả các gia đình, nhà hàng ở Hội An đều thắp đèn lồng, tạo thành lễ hội đêm rằm ở Phố cổ, độc đáo, hấp dẫn du khách,

Văn hóa ẩm thực

Phố cổ Hội An là nơi quần tụ của cư dân từ nhiều vùng trong nước, từ nhiều nước đến định cư. Khi đến đây định cư họ mang theo phong tục tập quán, những nét văn hóa riêng biệt đã tạo cho văn hóa nói chung và văn hóa ẩm thực ở phố Hội thêm phong phú, đa dạng, độc đáo mà không địa phương nào có được.

Cái đặc sắc trong văn hóa ẩm thực ở phố Hội là sự kết hợp hài hòa của mùi vị, chất liệu món ăn, không phải là cao lương mỹ vị nhưng lại vừa bình dị, vừa sang trọng.

Đến nay Hội An vẫn gìn giữ được nhiều món ăn mà hương vị của nó những người đi xa phố Hội mãi còn nhớ nhắc tới như cao lầu, hoành thánh, chè dừa, bánh tráng đập dập…

Cao lầu phố Hội

Cao lầu, món ăn gắn liền với phố Hội. Đây là món ăn ngon, vang danh nhưng thầm lặng, ít phổ biến vì chỉ ở phố Hội mới có và nó mang đầy đủ hương vị độc đáo.

Cao lầu Hội An
Cao lầu Hội An

Cao lầu được chế biến công phu, dùng gạo ở địa phương, chọn gạo phải thơm ngon, không cũ hoặc quá mới (tránh quá khô hoặc quá ướt). Gạo được ngâm với nước tro đốt từ củi ở Cù lao Chàm. Nước làm bột được lấy từ giếng của người Chăm cổ ở Bá Lễ. Gạo được xay, bồng, vắt nước, nhồi bột. Cao lầu khác mì vì không phải tráng bằng bột gạo mà cán bằng bột gạo ngâm tro, qua ba lần lửa, hấp sơ, cắt thành sợi rồi hấp chín nên bánh đanh, có màu vàng nhạt tự nhiên. Sợi cao lầu chỉ giữ được trong ngày, khi ăn nhúng qua nước sôi, để ráo.

Để làm nhân ăn với sợi cao lầu, người ta chọn thịt đùi heo nạc, ướp gia vị,  ngũ vị hương làm thành xá xíu. Sợi cao lầu còn được xắt thành đoạn ngắn, phơi khô rồi chiên giòn. Đậu phộng rang, giã nhỏ phi với tỏi. Các thứ này được đặt trên sợi cao lầu. Nước sốt khi làm xá xíu rưới lên, ai ăn đậm đà thì thêm nước mắm cốt.

Cao lầu còn được ăn cùng với húng lủi, rau đắng, bánh đa có nhiều mè, nước dừa và được nướng giòn.

Cao lầu không có mùi vị đặc sắc Việt Nam nhưng cũng không người Hoa nào nhận nó là của Trung Hoa. Cao lầu đã trở thành một thành nét văn hóa khi người ta nói đến Hội An.

Bánh tráng đập dập

Món ăn mang hương vị Hội An này chỉ còn ở Cẩm Nam là nổi tiếng. Món ăn đơn giản nhưng mang tính nghệ thuật dung dị.

Bánh tráng đập dập
Bánh tráng đập dập

Bánh tráng ướt phải tráng không quá dày, cũng không quá mỏng. Bánh tráng khô phải nướng đúng độ lửa, ươm vàng rồi hai thứ bấnh ấy được đập vào nhau như sự gặp gỡ âm dương.

Ăn kèm với món bánh tráng còn phải có chén nước mắm “keo sơn”, có thêm ớt, không quá mặn cũng không quá nhạt, được nêm theo gia vị vừa phải, không làm mất đi mùi nước mắm. Món ăn mang hương vị Hội An đơn giản, rẻ tiền nhưng lại có sức quyến rũ lạ thường.

Hội An ngày nay còn nổi tiếng về nhiều loại bánh như bánh đậu xanh ướt, khô có nhân thịt, bánh xu xế, bánh ít lá gai, bánh quai vạc, hoàng thánh.

Bánh quai vạc là loại bánh được người Pháp gọi là “bông hồng trắng”, bánh có nhân chả tôm quết nhuyễn, áo được làm bằng bột gạo trắng, chấm cùng nước mắm pha loãng.

Hoành thánh là những mảng bánh tráng bột mì nhân chả tôm, ăn cùng với rau húng lủi rau đắng, ngon nổi tiếng.

Cảm nhận về văn hóa ẩm thực phố Hội không phải chỉ ở cách chế biến món ăn mà còn ở không gian ăn uống, trầm mặc, cổ kính, tình người chân thật, giản dị hiếu khách nơi đây. Các nguyên liệu để chế biến món ăn là các sản vật tinh khiết của địa phương.

Hội An còn hấp dẫn du khách bởi các làng nghề truyền thông như làng mộc Kim Bồng thuộc xã cẩm Kim, làng gốm Thanh Hà ở xã cẩm Hà, thị xã Hội An. Sản phẩm của các làng nghề này có mặt ở khắp đất nước, làm đẹp cho nhiều công trình kiến trúc.

Đến Hội An du khách còn được thưởng thức nghệ thuật hát bội, hát bài chòi, mua sắm nhiều mặt hàng lưu niệm thủ công mỹ nghệ được làm từ các bàn tay khéo léo của những nghệ nhân Phố cổ.

Với một quần thể kiến trúc đô thị cổ, phong phú về chủng loại, nhiều về số lượng, có giá trị về nhiều mặt được giữ gìn khá nguyên vẹn, với sự phong phú giá trị văn hóa phi vật thể. Ngày 04 tháng 12 năm 1999 Phố cổ Hội An đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới, đáp ứng tiêu chí thứ 5, cung cấp một ví dụ hùng hồn về một dạng nhà ở truyền thống, nói lên một nền văn hóa đang có nguy cơ bị hủy hoại, trước những biến động không thể cưỡng lại được.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN