Những lễ tục cần biết khi làm nhà ở – p2

Các nghi lễ khi làm nhà mới

Từ khi bắt tay vào làm nhà đến khi ngôi nhà được hoàn tất, người Việt xưa phải tiến hành nhiều nghi lễ khác nhau.

Lễ bình cơ: Gia chủ đặt lễ vật trên miếng đất chọn làm nhà, rồi cúng. Sau lễ này, gia chủ mới đi mời thợ đến bàn việc làm nhà.

Lễ phạt mộc (lễ khởi công): Gia chủ làm hai mâm cỗ, một để cúng tổ tiên và Thổ thần, một để cúng tổ sư thợ mộc. Cúng xong, người thợ cả cầm rìu chặt ba nhát vào cây gỗ định làm cột cái để làm phép. Sau đó, người thợ cả nhất thiết phải lên rui mực, tức là định kích thưóc ngôi nhà vào một thanh tre gọi là rui mực, hay sào nhà, thước tầm.

Lễ in tảng (lễ định tàu): Gia chủ làm lễ này để tiến hành đổ nền nhà; sau đó, định vị trí đặt đá chân cột (đá tảng).

Lễ lập tục (lễ cất nóc, lễ thượng lương): Đây là nghi lễ được coi là quan trọng nhất, không thể bỏ qua. Chọn được ngày tốt, gia chủ nhờ một người nào đó trong họ, vợ chồng song toàn, lắm con nhiều cháu, làm ăn phát đạt, để đưa cái nốc lên gian chính giữa. Trong khi làm lễ, người ta buộc lên cái nóc đó hai cành lá thiên tuế, một vài vuông vải đỏ hay vóc đại hồng có vẽ hình bát quái, quyển lịch hay sách chữ Nho.

Lễ an thổ: Lễ này cúng bái để tổ tiên biết, nhà đã làm xong. Trong số lễ vật có gạo rang trộn vói nước để rắc vào bốn góc nhà.

Lễ động sàng: Làm lễ này cúng báo gia tiên để dọn về nhà mới và được chuyển các đồ gia dụng vào trong nhà.

Lễ khánh thành: (lễ hoàn thành, lễ lạc thành, lễ cài sào): Gia chủ làm lễ cúng gia tiên, rồi gác thước tầm lên hai dầu cột cái của gian chính giữa. Lễ này có tổ chức ăn uống mời bà con họ hàng, khách gần tới dự. Những người được mòi thường đem tiền, câu đối, pháo đến chúc mừng gia chủ.

Lễ trả công thợ: Lễ này do những người thợ tổ chức cúng tổ sư và để nhận tiền công.

Lễ an cư: Gia chủ làm lễ tạ tổ tiên, Thổ thần để báo cáo rằng: chủ nhân đã làm ăn yên ổn trong nhà mới.

Lễ khởi công dựng nhà

Làm lễ khởi công (xây móng hoặc cất nóc), người xưa sắm một lễ mặn gồm xôi gà, trầu rượu, vàng hương, đèn được thắp lên. Trên mâm đặt hai hàng chén: 3 chén nước lã và 3 chén rượu.

Khi khởi công vào giờ đã chọn, gia chủ thắp 5 nén hương, rồi cầm chén rượu ở giũa đổ xuống đất, lại rót rượu vào chén đó để vào chỗ cũ và khấn. Nội dung khấn: xưng hô họ tên, địa chỉ, xin Thổ thần và tiền chủ…Khấn xong, gia chủ cầm xẻng đào đất có tính tượng trưng. Khi cháy hai phần ba hương thì hoá vàng, rượu và nước vẩy khắp nơi.

Nếu gia chủ không được tuổi làm nhà, có thể mượn người được tuổi. Người được mượn khi khấn, phải xưng tên của mình; gia chủ lúc đó phải đứng cách nơi khởi công 50 mét trở lên. Người được mượn thực hiện nghi lễ này cho đến khi ngôi nhà xây xong, sau đó mới bàn giao lại cho gia chủ đích thực. Thủ tục bàn giao được thực hiện đồng thời trong buổi lễ Nhập trạch (vào nhà mới); cả người được mượn và gia chủ phải có mặt. Sau khi bàn giao, gia chủ khấn tiếp, xin phép các vị thần giúp đỡ vào nhà bình an.


Bố cục chung của nhà ở

Nhà nông thôn Việt có một số nét chung. Xưa kia, do dân cư còn thưa thớt, trong một số khuôn viên, các loại cây lưu niên thường được trồng quanh ao, phía trước và sát hàng rào; qua ao là vườn rau cung cấp trực tiếp cho bữa ăn hàng ngày, rồi đến sân phơi và nhà ở. Với sự thoáng đãng phía trước nhà ở, người ta nghĩ về nguồn phúc không bị chặn lại. Không ai làm cổng trên trục chính của ngôi nhà, vì sợ khí độc xông vào nhà, mà làm ở hai bên hoặc sát góc. Hai bên đường vào thường được trồng hoa thôn dã. Nhà bếp và chuồng nuôi gia súc, gia cầm thường đặt cạnh nhau và ờ gần hai đầu hồi hoặc phía sau nhà chính. Nhà Việt xưa chủ yếu có một tầng, mái thấp. Một đặc điểm chung của cả nhà giàu và nhà nghèo ở nông thôn là không bao giờ lát nền, nhằm tạo cho âm dương được hoà khí. Mặt khác, để được an toàn, người ta cũng ít làm cửa ở phía sau và hai bên, khiến lòng nhà khá tối; do đó, việc trang trí nội thất chủ yếu là các tranh màu sáng nóng, ít chú ý tới chi tiết nhỏ nhặt.

nha tranh vach dat

Cổng ngõ

Người xưa cho rằng, đường ngõ vào nhà theo kiểu hồi tuyền (vòng quanh) là hay nhất; kiêng đường ngõ trực xung – tức chạy thẳng vào nhà. Đầu phòng ở cũng kỵ xung đổi, tức là đường chạy thẳng vào đầu hồi nhà, mặc dù đây chỉ là bức tường mở cửa sổ. hay không. Những dấu hiệu này sẽ gây hoạ, không thể bỏ qua.

Nếu cửa chính ngôi nhà có đường đi chiếu thẳng vào, con đường càng dài thì điềm báo hung hoạ càng lớn. Đây là thế gọi là “hổ khẩu ốc” (nhà miệng cọp), ngôi nhà như thế khó mà yên để ở.

Người xưa rất coi trọng tới việc xây dựng cổng ngõ, coi cổng ngõ như mặt của ngôi nhà. Trong khi làm nhà, dân ta thường theo phương pháp của tổ sư thổ mộc Lỗ Ban, người đã áp dụng thuyết tám vật đồng thể của phương Đông.

Cổng ngõ hư thủng, trộm cướp có thể dòm ngó; vách cửa lệch lạc tức tâm người không chính; cửa cao hơn nhà, con người có tâm kiêu ngạo, nạn tuyệt hậu do, đó mà ra. Người ta không bao giờ làm cổng ngõ trông thẳng vào gian giữa nhà chính; cổng thường ở cạnh dãy nhà phụ. Cổng mở nơi bờ rào tre, thường là cổng chống. Sáng dậy đẩy ra đằng trước có cột chống lên, buổi tối hạ sập xuống, kéo chân cột cổng vào trong, cài then lại. Giàu có thì làm cổng xây lợp ngói, cánh cổng bằng gỗ. Nhà đất rộng, thì qua cổng ngoài đi đến vòng trong, gần với nhà còn có một cổng nửa gọi là cổng ngắn. Nói chung cổng phải xứng với nhà, Từ Huế trở ra, nhà nào cũng có cổng; cổng có khi xây, có khi chỉ là tấm liếp. Ở miền Nam, hầu như không còn cổng nửa.

Sân vườn

Từ xưa, dân ta đã không có thói quen để đất rộng làm vườn cây rợp bóng, đường lối thênh thang, dành cho thú nhàn du tản bộ. Ở miền đồng bằng, đất chật người đông, thật ra chẳng bao giờ có một tấc đất thừa để trông không trồng trọt. Chỉ những gia đình sung túc có đất rộng hơn thì đằng trước nhà là sân lát gạch, bên rìa trồng một sô cây hoa; xung quanh nhà là vườn trồng rau, cau, chè và các thứ cây ăn quả. Nếu không ở gần sông hồ, người ta thường đào ao để rửa ráy, tắm giặt và thả cá. Chung quanh vườn là bờ tre trồng thành bụi liền gốc làm hàng rào.

Vườn cảnh

Những người phong lưu nhàn hạ thích có vườn cảnh ngay trước nhà. Kề mái hiên là giàn hoa cao hơn hai mét, thường trồng cây leo cho mát mẻ. Dưới giàn hoa là hòn non bộ trong bể nước thả cá vàng, Những hòn núi kiếm được nguyên vẹn là quý, nhưng rất hiếm, nên người ta thường chắp nối nhiều miếng đá để thành hình thể theo ý muốn. Trên non bộ có tháp, chùa có lối đăng sơn, cầu bắc qua khe suối, đá núi rêu phong, cỏ cây vui mắt; có khi là bàn cờ với hai ba ông tiên dưới gốc cổ thụ; có khi là cảnh những người câu cá, kiếm củi, cày ruộng, đọc sách (ngư, tiều, canh, độc). Tương làm bằng sành sứ, nhỏ nhưng rất sinh động. Những lúc nhàn rỗi, ngươi ta ngồi ngắm hòn non bộ như để quên lãng mọi nỗi ưu tư.

Dưới giàn hoa còn có hai dãy chậu cây cảnh lớn nhỏ, tuỳ từng loại cây. Các cây sanh, si, mai, sung, đa, đề… được cắt tỉa, uốn nắn ngay từ lúc mối trồng; trồng lâu năm gốc lớn mà thân không cao lên, vỏ cây xù xì, lá nhỏ càn lại chi chít, hình dáng cổ kính. Cây uốn phải có dáng dẹp chưa đủ, còn phải thế lượn khúc chầu phục mà không phản lại, có khi lại là nhũng cây ô rô uốn hình hạc, công hoặc long mã.

Người xưa cũng thích trồng các loài cây có hoa. Chơi hoa trồng chậu, trước hết phải kể đến lan với nhiều giống, được coi là hoa của bậc vương giả. Thuỷ tiên cũng là loài hoa đẹp; hương thơm nhã đạm, hoa nở cũng bền lâu; người ta thường hái tỉa vài bông, ướp trà từng ấm một. Một số loại hoa thường được trồng theo khóm như thược dược, cẩm chướng, dạ hợp, huệ, nhài. Cúc thì phần nhiều trồng chậu; hồng thì hay trồng ở rìa tường hoa. Có người hiếu dị trồng quỳnh, mỗi năm một mùa thường nở một lần về đêm, và mời bạn đến uống rượu thưởng hoa lúc ấy.

Nhiều nhà trồng ở phía trước nhà nhũng cây bích đào, bạch mai, hải đường. Mỗi dịp Tết đến, những cây đào, mai vừa qua mùa đông rụng hết lá, trên cành chi chít nụ và hoa, trong làn mưa xuân lất phất, trông mờ tỏ như muôn nghìn hạt ngọc.

Đời trước lấy nhàn làm quý, người ta cứ ung dung tự tại với chén trà, câu chuyện dưới mái hiên bên vườn cảnh, năm tháng không kể vào đâu, âu cũng là một nếp sống.

Ăn mừng nhà mới

Khi làm xong nhà mới, chủ nhà sẽ chọn ngày lành tháng tốt dọn tới ở. Sau đó làm lễ, có cỗ bàn thịnh soạn mời bà con, họ hàng, bạn bè đến ăn mừng nhà mới (lễ tân gia) và cáo gia tiên.


Lễ tân gia thường tổ chức long trọng hơn lễ cất nóc. Những người được mời đến dự thường mang lễ vật tới mừng như câu đối, các bức đại tự, trầu, cau. Lễ tân gia xưa thường đốt pháo rất vui vẻ.

Cúng trấn trạch

Đôi khi vì sức khoẻ người trong gia đình hoặc sự làm ăn không được yên ổn khiến người ta nghĩ đến nhà cửa cũng có thể bị động: hoặc vì hướng nhà, hướng ngõ không hợp với tuổi của gia chủ, hoặc có một con đường đâm thẳng vào gian nhà chính, hoặc mạch đất phía dưới ngôi nhà bị đào bới…phải xoay lại nhà hoặc phải có lễ trấn trạch. Cũng đôi khi người ta nghĩ là bếp cũng bị động, bởi đấy là nơi ở của Táo quân nên phải giữ gìn sạch sẽ, nhất là mấy ông đầu rau.

Cách xếp đặt trong nhà

Ngày xưa, nhà nào cũng có một bàn thờ gia tiên ở gian giữa. Nhà nghèo thì đóng một tấm chõng tre cao ngang ngực, bát hương bằng sành đặt trên chiếc mâm xà mộc mạc, cùng ba chiếc chén móng để cúng rượu. Đó là nơi thờ cúng ông bà tổ tiên, để người trong nhà ra vào lúc nào cũng thấy ở trước mắt, khiến người ta không lúc nào quên được nguồn gốc. Nhà giàu có thì bàn thờ tổ được bày biện trang trọng. Trong cùng là cỗ khám gian trên chiếc án cao, rồi đến chiếc sập thờ trên đặt mâm quy, ngoài cùng là hương án, trên bày ngũ sự, bát hương công đồng đặt chính giữa, mé sau là ba đài rượu. Khoảng trên phía trước treo nghi môn thêu mai hoa trúc hóa. Trên xà dọc là bức hoành phi sơn thếp, phía trước hai cột cái là đôi câu đối sơn hoặc khảm. Như vậy, gian giữa nhà chỉ còn một khoảng trống ở trước hương án đủ để cho con cháu làm lễ cúng.

Gian bên trái là chỗ ngồi chơi, tiếp khách. Trong cùng thường kê một chiếc tủ trà chân quỳ dạ cá, vối tấm lèo chạm trổ tinh vi. Trên tủ bày những đồ chơi quý, còn trong tủ thường để bình trà, tách chén. Phía trước tủ là sập hoặc ghế dựa vái kỷ trà ở giữa. Gian bên phải thường kê hai bộ ghế ngựa, là chỗ để họ hàng, bạn bè (là đàn ông) nghỉ đêm mỗi khi nhà có công việc.

Nhà nghèo thì gian bên cũng có giường lát, chiếu trơn và đôi tràng kỷ đóng bằng tre, giữa kê một cái bàn, trên để điếu đóm, cơi trầu, tích nước.

Trên các cột nhà thường treo câu đối sơn mài, chữ khảm, chữ thếp hoặc liễn giấy. Trên hai thuận thường treo những bức tranh thuỷ mặc, hoặc tranh thêu với nhiều để tài: sơn thuỷ, trúc tước, tùng hạc, mai điểu, liên áp, tiêu tượng, tô nữ, tứ quý, tam đa, tùng lộc, bàn đào…

Trong buồng kê hòm gian và giường ngủ cho phụ nữ. Hòm gian cất giữ những đồ vật đáng giá không dùng đến hàng ngày, như nồi ba mươi, vạc, mâm đồng và tiền kẽm.

Giường chiếu

Ngày xưa, dân chúng còn nghèo, ít có giường nằm bằng gỗ lát ván; phần nhiều là giường tre, khá hơn thì khung gỗ, nhưng thang vẫn bằng tre, giát cũng bằng nan tre ken, trên trải chiếu. Giường ngủ thường đóng chân liền cho vững chắc, không như giường ngồi chơi đặt trên hai mễ chân niễng. Mẫu mực thông thường trong dân gian là: “Giường bốn thước hai, quan tài bốn thước bảy”. Đó là nói chiều dài, bốn thước hai ta xưa là 1 mét 68, người cao lớn thì nằm không đủ chỗ.

Trong tiếng Việt, hai chữ “giường – chiếu” thường đi đôi với nhau; nói đến giường, ta nghĩ ngay đến chiếu. Cói dệt chiếu là một thứ cỏ mọc ở những bãi đất bồi ven biển, thân cây nhỏ và dài. Cói có đặc tính ngự hàn, mùa đông tháng giá, người nghèo nằm ổ rơm, đắp một cái chiếu cũng đủ ấm. Nhà cao cửa rộng thì chiếu miến, chiếu hoa, cạp điều, đầu tang chế cũng chiếu cạp xanh.

Cái chiếu đối với người xưa thật đắc dụng. Người nông dân siêng năng, từ canh ba đã cắp chiếu ra bờ sông nằm, đợi nước lên, kịp bắc gầu tát nước vào ruộng. Nhiều bà mẹ đặt con nhỏ trên chiếc chiếu võng, đưa kẽo kẹt ru con ngủ, để còn rảnh tay làm việc khác. Người đi thuyền nan nhỏ gặp lúc thuận gió, căng chiếu lên làm buồm cho thuyền chạy, đỡ công chèo. Người nghèo xấu số chết không quan quách, phải chôn bó chiếu. Cúng tế phải trải chiếu trước bàn thờ hương án để lễ lạy. Câu “Đứng chiếu dọc trong làng” là nói tới người tiên chỉ: khi tế thần, tiên chỉ thủ vai mạnh bái, hành lễ trên chiếc chiếu cạp điều trải dọc, gọi là chiếu tế, khác chiếu lễ trải ngang.

Đèn đuốc

Cách thắp sáng của ta ngày xưa rất thô sơ: vua quan và nhà giàu sang ban đêm thắp nến, còn dân chúng thì thắp đèn dầu ép từ một số hạt. Đèn là một cái đĩa sành nhỏ đựng dầu, đặt trên quang có móc treo; bấc đèn thả trong đĩa, một đầu chòm ra miệng đĩa để cháy thành ngọn. Bấc đèn làm từ cỏ bấc, cắt gỡ lấy ruột, phơi khô quắt còn nhỏ bằng chiếc tăm. Người xưa lại không dám thắp hai – ba ngọn trên một đĩa dầu, thành ra đèn chỉ đủ sáng lù mù. Dân ta đa số là người lao động, suốt ngày làm lụng, tối đến đi ngủ sớm, nên nhiều khi không thắp đèn. Chỉ những thư sinh ôn luyện mới cần dùng đèn; cũng may là hồi đó các sách in đều là mộc bản, chữ cỡ lớn, nên với ngọn đèn dầu cháy cũng đủ sáng. Trên bàn thờ, thì đĩa dầu để trên cây đèn bằng sành hay bằng gỗ tiện sơn son. Mãi đến cuối thế kỷ XIX, đèn dầu lửa mới du nhập vào nước ta. Không rõ lúc ấy dầu lửa nhập cảng từ đâu mà cái đèn đó được gọi là đèn Hoa kỳ.

Ở những làng có tục tế thần về đêm, người ta thường đốt đuốc nơi hành lễ sân đình, tạo nên vẻ uy linh trong khung cảnh huyền bí. Tế Nam giao về khuya và gọi sĩ tử nhập trường thi đầu canh năm cũng dùng đuốc. Nơi thôn dã, cuối hạ sang thu, khi những cơn mưa rào vừa tạnh, người ta đốt đuốc ra soi bờ ruộng bắt ếch. Những đêm tối trời không trông thấy đường đi, cũng phải đốt đuốc để đi lại. Ở miền đồng bằng, đuốc được chẻ bằng tre ngâm, phơi khô, bó lại, cháy rất đượm, mang đi ra mưa gió cũng không tắt. Miền rừng núi, ngoài bương nứa ra, người ta còn dùng mấy loại cây có nhựa để làm đuốc, cháy rất đượm.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN