SẮC PHONG Ở MỘT SỐ LÀNG THUỘC THÀNH PHỐ HUẾ

Sắc phong là một loại văn bản Hán Nôm đặc biệt, một loại tư liệu cổ có giá trị. Những sắc phong còn giữ được trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và thành phố Huế nói riêng tuyệt đại đa số được ban cấp dưới triều Nguyễn, một số rất hiếm hoi thuộc thời Tây Sơn. Dưới đây là các làng cổ ở Huế còn bảo lưu được các sắc phong và thực trạng hiện nay.

Một số làng thuộc Tp Huế còn lưu giữ sắc phong

Làng An Vân

Nay làng còn lưu giữ được 19 sắc phong (SP) bao gồm:

– Triều Minh Mệnh 7 (1826): cấp 1 SP.

– Triều Thiệu Trị: cấp cho 5 SP. Ba SP vào ngày 8 tháng 11, niên hiệu Thiệu Trị 2 (1842),  một SP vào ngày 27 tháng 11 niên hiệu Thiệu Trị 5 (1845) và một vào ngày 26 tháng 12, niên hiệu Thiệu Trị 5 (1845).

– Triều Tự Đức: cấp 6 SP, bốn SP được cấp vào ngày 6 tháng 8, niên hiệu Tự Đức 3 (1850) và hai SP được cấp vào ngày 24 tháng 11, niên hiệu Tự Đức 33 (1880).

– Triều Đồng Khánh 2 (1887): cấp 3 SP.

– Triều Duy Tân 3 (1909): cấp 1 SP.

– Triều Khải Định: cấp 3 SP, một SP vào ngày 11 tháng 8, niên hiệu Khải Định 3 (1918) và hai vào ngày 25 tháng 7 niên hiệu Khải Định 9 (1924).

Làng An Ninh Hạ

Hiện làng còn bảo quản khá tốt 29 sắc phong, gồm:

– Triều Minh Mệnh: cấp 3 SP, một SP vào ngày 26 tháng 7, niên hiệu Minh Mệnh nguyên niên (1820) và hai vào ngày 11 tháng 2, niên hiệu Minh Mệnh 5 (1824).

– Triều Thiệu Trị: cấp cho 8 SP, ba SP vào ngày 8 tháng 10, niên hiệu Thiệu Trị 2 (1842),  ba SP vào ngày 8 tháng 11, niên hiệu Thiệu Trị 2 (1842), một vào ngày 27 tháng 11, niên hiệu Thiệu Trị 5 (1845) và một vào ngày 26 tháng 12, niên hiệu Thiệu Trị 5 (1845).

– Triều Tự Đức: cấp 6 đạo sắc, bốn SP được cấp vào ngày 6 tháng 8, niên hiệu Tự Đức 3 (1850) và hai được cấp vào ngày 24 tháng 11, niên hiệu Tự Đức 33 (1880).

– Triều Đồng Khánh 2 (1887): cấp 3 SP.

– Triều Thành Thái thứ 6 (1904): ban cấp hai đạo sắc phong vào ngày 25 tháng 9 năm 1904.

– Triều Duy Tân 3 (1909): cấp 2 SP ngày 11 tháng 8 năm  1909.

– Triều Khải Định: cấp 5 SP, ba SP cấp ngày 18 tháng 3 niên hiệu Khải Định 2 (1917) và hai cấp ngày 25 tháng 7, niên hiệu Khải Định 9 (1924).

Làng An Hòa

Hiện còn giữ 11 sắc phong, nhưng phần nửa các sắc phong đã bị hư hỏng nặng, gồm:

– Triều Minh Mệnh thứ 18 (1837): cấp 1 SP.

– Triều Thiệu Trị 2(1842): cấp 2 SP, một ngày 8 tháng 10 và một cấp ngày 8 tháng 11.

– Triều Tự Đức: cấp 3 SP, hai cấp ngày 6 tháng 8, niên hiệu Tự Đức 3 (1850) và một cấp ngày 24 tháng 11, niên hiệu Tự Đức 33 (1880).

– Triều Đồng Khánh 2 (1887): cấp 1 SP.

– Triều Duy Tân 3 (1909): ngày 11 tháng 8 cấp 2 SP.


– Triều Khải Định 9 (1924): cấp 2 SP.

Làng Dương Xuân

Hiện nay đình còn lưu giữ 9 sắc phong, được bảo quản tốt, gồm:

– Triều Minh Mệnh thứ 7 (1826): cấp 1 SP.

– Triều Thiệu Trị 2 (1842): cấp 1 SP.

– Triều Tự Đức 3 (1850): cấp 1 SP.

– Triều Đồng Khánh 2 (1887): cấp 1 SP.

– Triều  Duy Tân 3 (1909): cấp 1 SP.

– Triều Khải Định: cấp 4 SP, một cấp ngày 20 tháng 3, niên hiệu Khải Định 2 (1917) và ba cấp ngày 25 tháng 7 niên hiệu Khải Định 9 (1924).

Sắc phong làng Dương Xuân Thượng  (Phân biệt với làng Dương Xuân ở trên)

Hiện còn 19 sắc phong và một bài văn tế của làng tại đình, gồm:

– Triều Tự Đức: cấp 2 SP, một cấp ngày 17 tháng 10, niên hiệu Tự Đức 5 (1852) và một cấp ngày 24 tháng 11, niên hiệu Tự Đức 33 (1880).

– Triều Đồng Khánh 2 (1887): cấp 1 SP.

– Triều Thành Thái: cấp 10 sắc phong, bảy cấp ngày 20 tháng 2, niên hiệu Thành Thái 2 (1890) và ba cấp ngày 18 tháng 2 niên hiệu Thành Thái 3 (1891).

– Triều Duy Tân: cấp 4 SP, ba cấp ngày 11 tháng 8, niên hiệu Duy Tân 3 (1909) và một cấp ngày 8 tháng 6, niên hiệu Duy Tân 5 (1911).

– Triều Khải Định 9: cấp 2 SP.

Làng Đốc Sơ

Tư liệu hiện lưu giữ trong đình làng chỉ còn 16 sắc phong, trong đó có 5 bức đã không còn nguyên vẹn và một bản văn tế của làng:

– Triều Minh Mệnh thứ 7 (1826): cấp 2 SP.

– Triều Thiệu Trị 5(1845): cấp 1 SP.

– Triều Tự Đức: cấp 5 SP, ba cấp ngày 6 tháng 8, niên hiệu Tự Đức 3 (1850) và hai cấp ngày 24 tháng 11, niên hiệu Tự Đức 33 (1880).

– Triều Đồng Khánh 2 (1887): cấp 2 SP.

– Triều Duy Tân 3 (1909): cấp 2 SP.

(Những sắc phong còn lại do bị hỏng nặng nên không thể nhận dạng được mặt chữ.)

Làng Lễ Khê

Nay người dân thường gọi là Lệ Khê. Hiện tại làng còn 12 sắc phong phong cho sáu họ được cấp vào thời Khải Định, phong cho các vị Khai khẩn của làng, trong đó ba họ Huỳnh, Lê, Trần mỗi họ giữ bốn bản sắc phong. Hiện phân nửa các bản sắc phong đã bị hỏng nát. Đặc biệt làng còn lưu giữ được một bản Hương ước của làng được soạn từ năm Khải Định thứ 9 (1924). Ngoài ra còn có các địa bạ của làng từ thời Minh Mạng đến thời Bảo Đại, nhưng tiếc thay đã bị hỏng nát gần như hoàn toàn.


(Những làng cổ khác như Phú Xuân, Thế Lại Thượng… còn giữ được nhiều sắc phong nhưng do đã được công bố, giới thiệu rồi nên chúng tôi không đưa vào bài này.)

Mô tả hình thức của sắc phong

Về kích thước và chữ viết của sắc phong

Kích thước sắc phong của thời Nguyễn có sự khác nhau, thậm chí trong mỗi đời vua qua mỗi lần cấp sắc phong lại có sự khác nhau về kích thước. Sau đây xin thống kê về kích thước của những sắc phong đã khảo sát từ thời Minh Mạng  đến thời Khải Định. Kích thước được tính theo chiều dài và rộng được đóng khung trên mỗi sắc phong.

– Thời Minh Mạng:  120 cm * 49,2 cm

– Thời Thiệu Trị: 115,5 cm * 49,5 cm

– Thời Tự Đức: 117 cm * 49,5 cm

– Thời Đồng Khánh: 118 cm * 49 cm

– Thời Thành Thái: 118 cm * 49 cm

– Thời Duy Tân: 119 cm * 47 cm

– Thời Khải Định

Năm Khải Định thứ 2 (1918): 113 cm * 48 cm

Năm Khải Định thứ 9 (1924): 122 cm * 50 cm

Chữ viết trên  những sắc phong đa phần theo lối chữ khải, một số ít viết theo lối đá thảo. Cỡ chữ, khoảng cách giữa các chữ và giản dòng cũng có sự khác nhau qua mỗi bản sắc phong. Thường thì những bản hợp phong có chữ viết nhỏ hơn, vì trong một lúc phong cho nhiều vị thần với rất nhiều mỹ tự nên đó cũng là điều tất yếu.

Về hoa văn, hoạ tiết trang trí, dấu triện và chất liệu giấy  sắc phong

Những bản sắc phong có một số đặc điểm về trang trí như sau: Mặt trước có hình rồng uốn lượn trong mây (long vân), hình ảnh con rồng có lúc màu bạc, có lúc màu xám, có khi là một con rồng lớn ẩn hiện trong những đám mây, có lúc vẽ rồng to và mây thưa; chung quanh viền  có khi vẽ liên vân, khi vẽ hoa văn hoa dây, có khi lại vẽ hoa liên đằng. Mặt sau vẽ lân phượng, tứ linh, vẽ đồ cổ hoặc vẽ hình lá cùng dây leo…

Tất cả những bản sắc phong được chúng tôi khảo sát đều được viết trên loại giấy “long đằng”. Đây là loại giấy tốt có thể tồn tại đến hàng trăm năm nếu biết cách bảo quản, nhưng ngày nay rất tiếc là nghề làm giấy này đã bị thất truyền.

Dấu triện thời Minh Mệnh khắc 4 chữ: “Phong tặng chi bảo”, còn những thời về sau đều khắc: “Sắc mệnh chi bảo”. Dấu triện được dùng một loại mực màu son đỏ và thường được đóng phía dưới hai chữ niên hiệu của dòng ghi niên đại sắc phong.

Hiện trạng văn bản

Chúng tôi đã sưu tầm, khảo sát được khoảng hơn 250 bản sắc phong thần và sắc phong nhân vật trong phạm vi thành phố Huế. Từ những lần tiếp cận văn bản đó chúng tôi có những đánh giá như sau:

– Hiện nay trên địa bàn thành phố Huế có khoảng 50 làng, nhưng đã có hơn phân nửa các làng bị mất sắc phong. Nguyên nhân sự mất mát này có thể là do kẻ xấu đánh cắp, do chiến tranh tàn phá, do thiên tai hay do cách bảo quản không tốt của làng. Ngoài ra trong số những sắc phong còn lưu giữ được cho đến ngày nay, đã có khoảng 30% sắc phong bị hư hỏng một phần hoặc hoàn toàn. Vì thế nên việc tiếp cận tài liệu gặp rất nhiều khó khăn.

– Những bản sắc phong mà chúng tôi tiếp cận đều được lưu giữ trong một chiếc hòm hình chữ nhật (bằng gỗ hay kim loại) hoặc trong một ống tre (hay gỗ). Điều đặc biệt là những sắc phong nay đều được lưu giữ tại đình hay miếu Thành hoàng, rất ít nơi lưu giữ tại tư gia vì nhiều lý do. Ở những nơi đó (đình hoặc miếu) ít người lui tới. Vì ít khi mở ra kiểm tra nên để lâu sẽ dễ bị ẩm mốc. Do vậy những bản sắc phong này bị hư hỏng cũng là điều dễ hiểu. Có những lần  chúng tôi mở hòm ra để khảo sát văn bản, chỉ còn thấy những mảnh giấy vụn hay bị rách nát, không thể đọc được. Tuy nhiên vẫn còn một số làng lưu giữ văn bản rất tốt như làng Dương Xuân, Phú Xuân, Thế Lại Thượng do những văn bản này đều được bảo quản tại tư gia.

Những vấn đề đặt ra

Hiện nay, trên địa bàn Thừa Thiên Huế, sắc phong vẫn còn nhiều, đến hàng nghìn bản, nhưng mỗi nơi lại được bảo quản với những cách thức khác nhau, có nơi nguyên vẹn, tình trạng tốt, nhưng cũng có nơi bị mủn nát tả tơi, thậm chí có phần lớn các làng đã bị mất sắc phong do thiên tai, hỏa hoạn, nhưng tình trạng mất trộm cũng rất nhiều. Do vậy vấn đề cấp thiết đặt ra là cần phải có những dự án sưu tầm đầy đủ các bản sắc phong để xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học. Những người giữ trách nhiệm bảo quản các bản sắc phong cũng cần được tập huấn cách bảo quản. Cần phải có các biện pháp cấp thời và  một chiến lược chung để lưu giữ “cái hồn” của làng xã. Đối với những bản sắc phong bị hỏng nát, hay bị mất cũng cần có những biện pháp phục chế như nguyên trạng, nhằm tôn vinh những giá trị văn hóa, tránh cho văn hóa làng xã bị phai mờ trong xu thế phát triển hiện nay.

Lê Văn Thi

(Cn Hán Nôm, Tp Huế)



BÀI VIẾT LIÊN QUAN