Sông Sài Gòn

Sông Sài Gòn là một phụ lưu không lớn lắm của sông Đồng Nai cả về chiều dài và lượng nước.

Sông bắt nguồn từ Ngang Đàm (Bưng Đàm) ở Campuchia rồi vào Việt Nam ở Tây Ninh đến Sài Gòn (nay là TP. HCM) hợp với sông Đồng Nai ở ngã ba Nhà Bè rồi đổ ra biển qua ba cửa: Cần Giờ, Đồng Tranh và Soài Rạp (Nguyễn Khắc Viện, Kể chuyện đất nước, 1988). Điều này cũng phù hợp với hướng chảy chung của các sông ngòi Việt Nam và các dạng địa hình cũ ở đây nữa. Như vậy, thượng lưu của nó phải là rạch Sanh Đôi ở Campuchia về chứ không phải là Tônglê Chàm từ Lộc Ninh xuống. Sông Sài Gòn là sông nhỏ, ít phù sa, lòng sông sâu với cửa sông vịnh và chịu tác động mạnh của thủy triều nên từ xưa đã là một hải cảng lớn mà Gia Định thành thông chí đã viết: “Tàu buôn và những ghe thuyền lớn nhỏ nước ta và các nước liên tiếp đến đậu, trông thấy những trụ cột buồm liền nhau như một đô hội”. Ngày nay, Sài Gòn lại càng quan trọng vì là cảng lớn nhất nước ta và cũng là cảng lớn ở Đông Nam Á và trên thế giới. Do vậy, Đinh Xuân Lâm trong “Sài Gòn dưới thời pháp thuộc” đã viết: “Sài Gòn với các vùng phụ cận đã giữ vị trí then chốt trong lĩnh vực kinh tế cũng như trong lĩnh vực quân sự”.

Sông Sài Gòn

Nghiên cứu về địa danh Sài Gòn cũng có nhiều tác giả như: Nguyễn Siêu (Phương Đình – Dư địa chí), Đặng Xuân Bảng (Sử học bị khảo, Địa lý khảo, thượng), Đoàn Minh Tuấn (Núi sông hùng vĩ), Phan Thiều và Ca Văn Thỉnh (Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh), Vương Hồng Sển (Sài Gòn năm xưa, 1969)… Sài Gòn tuy là sông nhỏ, song về mặt địa danh lại rất phức tạp vì số lượng tên sông đã khá nhiều mà lại còn có sự pha trộn của nhiều hệ ngôn ngữ ở đây: Miên, Phạn, Trung Quốc (Quảng Đông), Việt và nhất là Việt cổ nữa. Cho tới nay, sông Sài Gòn có khoảng mười tên gọi và nếu cả những từ đọc chệch đi và suy diễn thì có tới hai địa danh đáng lưu ý là sông Bến Nghé và sông Sài Gòn.

Về địa danh Bến Nghé (mà người nước ngoài lúc đó thường dịch là Bingel) hay Bến Trâu, Ngưu Chử và cả Ngư Hống, tức là sông có nhiều cá sấu. Nguyễn Siêu, trong Phương Đình – Dư địa chí, khi viết về tỉnh Gia Định, đã mô tả: “Sông có sông Ngưu Chử… Tục truyền sông này nhiều cá sấu, từng đàn đuổi nhau, kêu gầm như tiếng trâu kêu cho nên gọi là Ngưu Hống”. Gần đây. Đoàn Minh Tuấn trong sách “Núi sông hùng vĩ” (1974) cũng đã viết: “Sông Bến Nghé có lên chữ là sông Ngưu Chử (Bến Trâu). Đó là một dòng sông dữ dội, rộng và sâu, nhiều cá sấu.. Xưa kia, cá sấu từng đàn từng đàn đuổi nhau, rống lên như tiếng trâu nghé gọi bầy. Có lẽ vì thế mà ông bà ta thuở trước đặt tên như vậy chăng…?”. Từ này tương tự với từ gốc Miên là Prey Nokor mà Prey có nghĩa, là rừng, Nokor l à con bò và Prey Nokor có nghĩa là Rừng Bò: hay đúng hơn là Kompong Krabai. Ở đây, Kompong có nghĩa là vũng hay bến sông và Krabai có nghĩa là con trâu. Như vậy, vùng này xưa kia khi các tộc người mới đến khai phá còn rất hoang vu và có nhiều muông thú. Cũng tương tự, sông Cái Phan Rang cũng có tên là Kron – Biyuh mà theo Cabaton có nghĩa là sông Cá Sấu.

Còn địa danh Sài Gòn thì phức tạp hơn nhiều. Về tên gọi này đã được hiểu theo nhiều nghĩa rất khác nhau. Đa số tác giả đều thống nhất Sài Gòn là nơi có liên quan tới cây gòn (bông gòn). Đó là từ “Gòn”; còn từ “Sài” các tác giả vẫn hiểu khác nhau. Một số tác giả cho rằng Sài Gòn xuất phát từ ngôn ngữ Phù Nam cổ Preykor và tiếng Miên là Preykor, Preyko, Preyku mà ở đây Prey có nghĩa là rừng còn Kor, Ko, Ku là cây Bông Gòn. Như vậy, Sài Gòn đồng nghĩa với “Rừng Gòn” hay có tác giả còn gọi là Phú Lâm. Có tác giả lại cho rằng Sài Gòn là Thày Ngòn” có liên quan với tiếng Minh Hương có nghĩa là: “Lũy cao có nhiều cây Gòn” trong đó “thày” là bờ đê, lũy cao và “ngòn” là cây bông gòn (Phạm Triều và Ca Văn Thỉnh, 1972). Còn riêng André Surmer (1941) lại cho rằng Sài Gòn là “cây Gòn” vì từ “cây” chỉ biến âm trong tiếng Việt của chữ “thày “. Ngoài ra, một số tác giả khác lại cho Sài Gòn là Củi Gòn vì “thày” hay “Sài” đều có nghĩa là “củi” và “Gòn” là “cây Gòn”.

 


Ngược lại, một vài tác giả lại cho rằng Sài Gòn là xuất phát từ âm Trung Quốc là: Thày Ngòn. Từ ngữ này có nguyên gốc là “Đề Ngạn” rồi đọc chệch thành Thày Ngòn, Thày Ngồm, Thì Ngòn, Tai ngon, Tingan, Tây Đề… Về địa danh này, theo Vương Hồng Sển (Sài Gòn năm xưa, 1969) là:

“Đề” : có nghĩa là “bờ đê ngăn nước”.

“Ngạn” : là “bờ sông cao dốc”.

Như vậy, Sài Gòn có nghĩa là “bờ sông cao và dốc”.

Qua các ý kiến trên, Sài Gòn thường được hiểu với ý nghĩa là rừng Gòn, củi Gòn, một loại cây mọc nhiều ở vùng đó thời bấy giờ. Song các tác giả trên mới chỉ dựa vào ngôn ngữ nước ngoài (Preykor, Đề ngạn) để giải thích một địa danh Việt Nam trên đất nước Việt Nam e rằng chưa hợp lý lắm! Do đó, về địa danh này nên dựa vào tiếng Việy cổ là “Thày Ngòn” song, không phải là củi Gòn, rừng Gòn… Ở đây “thày” và “sài” trong tiếng Việt cổ là đồng âm và đều có ý nghĩa là “củi”. Còn “gòn” hay “ngòn” là một từ Việt cổ chỉ các sông nhỏ khá phố biến ở đồng bằng Nam Bộ như: Ngọn Cái Cái là một phụ lưu của sông Tiền, ngọn Bác Giàu là thượng lưu của rạch Đốc Vàng Hạ một phụ lưu khác của sông Tiền, ngòn Mương Phai là thượng lưu của rạch Cầu Lò và ngòn Cái Chanh ở Rạch Giá… Từ này là biến âm của từ nguồn một từ mà Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục còn hay dùng để chỉ các sông ở Trung Bộ như: nguồn An Sinh, nguồn Cơ, nguồn Hữu Trạch, nguồn Hưng Bình, nguồn Sơn Bồ… Như “sông có bến bán củi” mà ngày nay vẫn còn một Xóm Củi cùng với Xóm Than ở giữa thành phố Sài Gòn. Hiện nay cũng có bến Củi ở Dầu Tiếng thuộc Tây Ninh. Hiện tượng này cũng khá phổ biến trên đất nước ta như sông Sài hay sông Đồng Củi ở Bình Thuận,  sông Củi ở Đồng Nai. Ở xã Quảng Nam – Đồng Nai cũng có sông Chợ Củi hay Sài Thị và có thể là Kinh Thày, nơi mà thượng tướng Trần Khánh Dư vẫn xuống bán than, củi. Tương tự như hiện tượng này, ở Thanh Hoá có sông Bù Lù, tức là “sông Trầu không”. Cũng với hiện tượng này có thể giải thích được dễ dàng tên gọi: “Sài Côn'” của Sài Gòn. Ở đây “Sài” là củi còn “Côn” tức là sông, một tiếng biến âm của Krông, Kông… của các dân tộc vùng này, cũng như sông Côn ở Bình Định và các “Côn” (sông) nhỏ ở tỉnh Quảng Ninh. Chính Lê Quý Đôn đã phiên âm Sài Gòn thành Sài Côn trong Phủ biên tạp tục (1776).

Như vậy, địa danh Sài Gòn còn là vấn đề khá phức tạp và cũng có thể sơ bộ kết luận như các tác giả: Ca Văn Thỉnh, Tạ Xuân Linh và Hữu Ngọc là “trong bất kỳ trường hợp nào, rõ ràng là về mặt từ nguyên của Sài Gòn cần được nghiên cứu sâu hơn nữa” (Viemamese Studies, No45).



BÀI VIẾT LIÊN QUAN