Tìm hiểu lễ hội và văn hóa nghệ thuật Việt Nam

Với sự đa dạng phong phú về điều kiện tự nhiên, bề dày về lịch sử và văn hóa nên nước ta cũng giàu có về tài nguyên du lịch phi vật thể.

Lễ hội

Việt Nam có gần 400 lễ hội lớn, lễ hội gồm có phần lễ và phần hội, thường gắn liền với sự tôn vinh tưởng nhớ các vị anh hùng dân tộc (các vị nhân thần hoặc thiên thân), những người có công với nước, các danh nhân và thường diễn ra tại các di tích lịch sử văn hoá gắn với sinh hoạt văn hoá dân gian truyền thống.

Trong các lễ hội ở Việt Nam, phần lễ thường giữ vai trò quan trọng và là nội dung chính của lễ hội. Song cũng có một số lễ hội thì phần hội lại sôi nổi hơn,giữ vai trò quan trọng hơn phần lễ như lễ hội Lim ở Bắc Ninh, lể hội chọi trâu ở Đồ Sơn, lễ hội hát lượn của người Tày. Thời gian diễn ra lễ hội thưòng vào mùa xuân là chủ yếu.

lễ hội Lim ở Bắc Ninh
lễ hội Lim ở Bắc Ninh

Nước ta hiện nay còn lưu giữ, tổ chức nhiều lễ hội lớn, hấp dẫn du khách như lễ hội Đền Hùng, lễ hội Chùa Hương,lễ hội đền Kiếp Bạc, lễ hội Quan Am (ở Ngũ Hành Sơn),lễ hội Ka Tê (của người Chăm),..

Gần đây để tạo điều kiện thu hút du khách, quảng bá về du lịch, nhiều Festival du lịch cũng đã được tổ chức ở các di sản tự nhiên, văn hóa và các trung tâm du lịch.

Văn hóa nghệ thuật

Ở nước ta có nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật đã được phát triển lâu đời và có giá trị về nhiều mặt, là tài nguyên hấp dân để phát triển du lịch như quan họ Bắc Ninh đã có lịch sử khoảng gần 1.000 năm và được phát triển mạnh khoảng 300 năm trở lại đây. Hiện nay có tới 49 làng quan họ với 200 làn điệu, 500 bài hát cổ.

Bộ Văn hóa Thông tin và sở Văn hóa Bắc Ninh đang lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận quan họ Bắc Ninh là di sản văn hóa phi vật thể.

Nhã nhạc Cung đình đã được phát triển hàng ngàn năm, đặc biệt trong thời kỳ nhà Nguyễn. Tháng 11 năm 2003 Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

nghệ thuật hát Chèo
nghệ thuật hát Chèo

Về nghệ thuật hát Chèo: Được phát triển ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, có nhiều nghệ nhân nổi tiếng, đặc biệt là tổ nghề huyền nữ Phạm Thị Trân ở Hồng Châu (Hưng Yên), bà đã được phong chức Ưu Bà, dân gian đã lưu truyền:


          “Múa tay như muốn hái đào

Hát giục mây bay, hát gào gió thổi.

Tiếng hát kinh hồn quân bạc ác

Lời than làm nhỏ lệ đồng bào

Ngoài ra ở nước ta còn nhiều loại hình nghệ thuật khác như hát Bội, hát bài Chòi ở Quảng Nam, ca tài tử, cải lương ở Nam Bộ, nhiều loại hình dân ca như dân ca Huế, hát xoan ghẹo ở Phú Thọ, hát sli, hát lượn của các dân tộc Tày, Nùng.

Đặc biệt ở nước ta còn có loại hình múa rối nước đã từng được huy chương Vàng trong cuộc thi múa rối quốc tế năm 2000.

Bên cạnh các loại hình âm nhạc, các dân tộc Việt Nam còn duy trì và phát triển nhiêu vũ khúc đặc biệt của các dân tộc Thái, Lự, Khơ-me, Chăm. Nước ta cũng có nhiều loại nhạc cụ nổi tiếng khác nhau gồm cả bộ dây, bộ gõ và bộ hơi.

Đặc biệt, cồng chiêng và văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNECSO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể và truyền miệng của thế giới.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN