Các kiểu địa hình và các khu vực địa hình tỉnh Bình Phước

Các kiểu địa hình

Trên cơ sở phân tích về bản đồ địa hình, ảnh viễn thám, đặc điểm hình thái bề mặt, thành phần thạch học và nguồn gốc tạo thành, có thể phân địa hình tỉnh Bình Phước ra làm 6 kiểu địa hình.

Địa hình cao nguyên bazan

Loại địa hình này chiếm 1/3 diện tích của tỉnh, được hình thành do quá trình phun trào mắcma. Phân bố tập trung ở phía bắc và đông bắc tỉnh, tập trung ở các huyện: Bù Gia Mập, Bù Đăng, Lộc Ninh, Bù Đốp, một phần thị xã Phước Long và thị xã Bình Long. Địa hình có độ cao tương đối lớn, có bề mặt khá rộng, phân bậc rõ ràng cao ở phía đông bắc, thấp dần xuống
phía tây nam.

Địa hình đồi, núi thấp

Hình thành do quá trình nâng lên của lớp vỏ trái đất, một phần do nằm dọc theo lớp sóng phun trào mắcma dày. Trải qua thời gian, bề mặt bị bóc mòn, xâm thực nên dạng địa hình này có đỉnh tròn, sườn rất thoải, phân bố ở hầu hết các huyện, thị của tỉnh, nhưng tập trung nhiều nhất là ở phía đông bắc huyện Lộc Ninh, tây nam thị xã Phước Long, huyện Bù Đốp, huyện Bù Gia Mập và huyện Bù Đăng.

Địa hình đồng bằng xen kẽ đồi thoải

Chiếm tới 1/3 diện tích toàn tỉnh, hình thành do quá trình bồi tụ phù sa, được phân thành hai dạng chính: Dạng địa hình đồng bằng cũ, phủ đất xám, gồm nhiều quả đồi thấp, đỉnh bằng, sườn lồi rất thoải, nối tiếp nhau, độ dốc 2 – 3º; dạng địa hình đồng bằng do sông mới bồi tụ phù sa, hình thành ven các sông, suối lớn (phần hạ lưu), bề mặt bằng phẳng và thấp hơn. Phân bố chủ yếu ở thị xã Đồng Xoài, Đồng Phú, phía đông Lộc Ninh, phía nam Hớn Quản và ở thị xã Bình Long.

Các đồi thoải được hình thành từ các loại đá tương đối đồng nhất là cát bột đôi chỗ lẫn sạn. Bề dày thay đổi từ 2 đến 6m.

Địa hình thung lũng

Phát triển dọc theo thung lũng sông, suối hoặc dòng chảy tạm thời hoặc giữa các sườn núi, sườn đồi; hình thành do quá trình uốn nếp hoặc sụt lún của lớp vỏ trái đất; do sông, suối của Bình Phước thuộc dạng trẻ, quá trình xâm thực sâu nên sườn xâm thực thường ngắn, dốc từ 5 – 30º. Nhiều nơi lộ đá gốc trên bề mặt như ở sông Bé và các sông, suối khác ở phía tây của Phước Long.

Địa hình bồn trũng, đầm lầy

Dưới tác động của vận động sụt lún diễn ra với tốc độ mạnh ở phía nam hơn phía bắc và đông bắc, những bồn trũng rộng lớn được hình thành. Nơi đây, có các vật liệu do nước chảy của dòng sông mài mòn, rồi lắng đọng ở những chỗ trũng tạo thành hồ đầm. Dạng địa hình bồn trũng phân bố rải rác khắp tỉnh, chủ yếu tập trung ở Lộc Ninh. Các bồn trũng thường phân bố ở đầu nguồn sông, suối nhỏ, độ cao từ 10 – 20m đến 100m (dân địa phương gọi là bàu), diện tích vài trăm mét vuông, có nơi hồ, đầm rộng tới 15 – 20km². Đáng kể nhất là bồn trũng tây bắc Lộc Ninh rộng chừng 200km², hình thành trên độ cao khoảng 100m so với mực nước biển (cách xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh 8km về phía tây bắc) cấu tạo gồm 2 lớp: trên là đất màu đen chứa nhiều mùn thực vật, dẻo, nhão, dày 0,2m; dưới là sét bột màu nâu đen, vàng, ít mùn thực vật dày 0,6 – 1m.

Bù Gia Mập
Bù Gia Mập

Dạng địa hình cácxtơ

Địa hình cácxtơ là loại địa hình đặc biệt của vùng núi đá vôi. Hiện tượng độc đáo này được hình thành trong các núi hay cao nguyên đá vôi do tác động của nước ngầm. Nước mưa có thể thấm vào các kẽ, các khe, khoét mòn đá tạo thành các hang động rộng và dài trong khối núi. Trên địa bàn tỉnh Bình Phước, dạng địa hình cácxtơ phân bố ở thị xã Bình Long, một ít ở huyện Hớn Quản.

Các khu vực địa hình

Có nhiều cách phân loại các khu vực địa hình. Về cơ bản, tỉnh Bình Phước chia thành các khu vực địa hình sau:

– Khu vực núi thấp: Độ cao tuyệt đối từ 300 – 600m, tạo thành chủ yếu từ những núi lửa cũ hoặc núi rải rác, thuộc phần cuối của dãy Trường Sơn Nam, từ Tây Nguyên đổ xuống. Tập trung kiểu địa hình này có ở thị xã Phước Long, huyện Bù Đăng, bắc huyện Đồng Phú và một số ít ở thị xã Bình Long, huyện Hớn Quản, huyện Lộc Ninh. Độ dốc cao, bị chia cắt, nhiều nơi lộ cả đá gốc trên bề mặt, không thuận lợi cho trồng cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả hoặc các loại cây ngắn ngày; thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp lâu năm, trồng rừng, chăn thả gia súc, gia cầm. Ở các vùng thung lũng giữa núi có thể trồng các loại cây lương thực, thực phẩm.

– Khu vực đồi và đồi thấp:Độ cao tuyệt đối từ 100 – 300m, có bề mặt lượn sóng nhẹ, nối liền với các dãy bazan đá phiến thuộc huyện Lộc Ninh, thịtrấn Phước Bình, Bù Đốp, thị xã Đồng Xoài. Các đồi có đỉnh bằng, sườn dốc và thoải (3 – 5º). Về nguồn gốc, đây là kiểu địa hình bóc mòn – tích tụ, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, thích hợp trồng cây công
nghiệp lâu năm, cây ăn quả, cây công nghiệp hằng năm, chăn thả gia súc.


– Khu vực bồn trũng: Dạng địa hình này thuộc các vùng đất tích tụ, bồn trũng, các vùng phẳng giữa đồi (núi) ở độ cao 100 – 200m. Chính nơi đây vật liệu hình thành đất thô, chứa nhiều xác thực vật kém phân hủy; canh tác nông nghiệp phải chú trọng cải tạo đất, xử lý độ chua; có thể
trồng cây lương thực, thực phẩm và nuôi trồng thủy sản.

Phân loại diện tích đất theo độ dốc địa hình
Phân loại diện tích đất theo độ dốc địa hình. Nguồn: Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bình Phước đến năm 2020

Tóm lại, độ dốc địa hình nhỏ là điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và xây dựng các công trình. Bên cạnh đó, đất đai ở Bình Phước có tầng phong hóa khá dày. Đặc điểm thổ nhưỡng này thuận lợi để phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm có nguồn gốc nhiệt đới như: cao su, điều, hồ tiêu, cà phê, ca cao… Ngoài ra, tùy theo điều kiện khả năng đáp ứng nước tưới và nhu cầu thị trường, có thể phát triển thêm các loại cây trồng khác như: lúa, đậu phộng, khoai mì, cây ăn trái và các loại cây thực phẩm.

Theo phân cấp độ dốc và căn cứ vào cấu trúc hình thể và độ nghiêng dốc của bề mặt đất, yếu tố địa hình có thể phân chia ra 4 dạng chính với 6 cấp độ dốc, quy mô diện tích của từng cấp địa hình như sau:

– Địa hình núi thấp: Có diện tích 251.165ha (36,55% diện tích tự nhiên); phân bố chủ yếu ở phía bắc, đông bắc tỉnh thuộc các huyện Bù Đăng, Bù Gia Mập, Phước Long và đông bắc Đồng Phú. Địa hình có dạng núi thấp chia cắt mạnh, dốc nhẹ đến khá dốc; độ dốc phổ biến 8 – 30º, độ cao phổ biến từ 250 – 500m. Các loại đất phổ biến là đất nâu vàng, nâu đỏ trên bazan và đất đỏ vàng trên đá phiến, trong đó có khoảng 35% là đất có tầng mỏng. Về khả năng sử dụng, phần diện tích có độ dốc <20º(163.224ha, chiếm 64,99%) thích hợp cho bốtrí các cây công nghiệp lâu năm như cao su, cà phê, ca cao và cây ăn quả; phần diện tích có độ dốc >20º(87.941ha, chiếm 35,02%) chủ yếu thích hợp cho trồng điều và phát triển rừng.

– Địa hình đồi, núi thấp: Có diện tích 231.517ha, chiếm 33,69% diện tích tự nhiên, phân bố rộng rải ở phần trung tâm tỉnh. Địa hình có dạng đồi núi thấp dạng vòm, lượn sóng nhẹ ít dốc; độ dốc phổ biến <15º(chiếm gần 78%), độ cao phổ biến từ 100 – 250m. Các đất phổ biến là đất nâu đỏ, nâu vàng trên bazan và ít đất đỏ vàng trên đá phiến. Hầu hết đất có tầng dày, độ phì khá, rất thích hợp cho bố trí các cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả.

– Địa hình bậc thềm:Có diện tích 157.476ha (22,92% diện tích tự nhiên), phân bố ở phần phía nam và viền ranh phía tây, tây bắc tỉnh. Địa hình có dạng bậc thềm khá bằng phẳng hoặc nghiêng nhẹ, độ dốc phổ biến <8º(chiếm 98,06%), độ cao phổ biến 30 – 100m. Các loại đất phổ biến là đất xám và đất nâu vàng trên phù sa cổ, trong đó có khoảng 30% là đất có tầng mỏng. Về khả năng sử dụng, phần diện tích có tầng dày (chiếm khoảng 70%) thích hợp với nhiều loại cây trồng cạn lâu năm hoặc hằng năm khác nhau, phần diện tích có tầng mỏng chủ yếu thích hợp cho trồng điều và phát triển rừng.

– Địa hình thung lũng – hợp thủy:Có diện tích là 25.021ha (chiếm 3,64% diện tích tự nhiên), phân bố rải rác xen kẽ trong 3 dạng địa hình nêu trên. Đây là vùng địa hình thấp khá bằng phẳng, thuộc dạng bề mặt tích tụ với các đất phù sa, đất dốc tụ và xám glây, khá thích hợp cho canh tác lúa nước và các cây trồng cạn hằng năm.

Xét về mối liên quan đến phát sinh phát triển đất, 3 dạng địa hình: núi thấp, đồi núi thấp và bậc thềm (chiếm 93,16% diện tích tự nhiên) thuộc dạng bề mặt bóc mòn. Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa: Mùa khô khí hậu khô, nóng gay gắt và mùa mưa có lượng mưa lớn, tập trung, các quá trình xói mòn, rửa trôi đất rất dễ dàng xảy ra trên những bề mặt bóc mòn này. Vì vậy cần chú ý các biện pháp bảo vệ đất như bảo vệ rừng tự nhiên, trồng các loại cây lâu năm có độ che phủ cao, trồng cây theo đường đồng mức…

Xen trong các dạng địa hình chính vừa nêu là những thung lũng nhỏ hẹp kéo dài ven hợp thủy và một số đồi núi sót, cao dốc, mọc vượt trội lên như núi Bà Rá (723m), núi Nam Đô (289m) và núi Gió (169m).

Địa hình là yếu tố có ảnh hưởng rõ rệt đến khí hậu, thủy văn, đất đai và giao thông của mỗi địa phương. Nghiên cứu, khảo sát để nắm rõ yếu tố địa hình góp phần quan trọng trong việc đề ra các chính sách và giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất. Tỉnh Bình Phước có địa hình đa dạng với nhiều kiểu địa hình và khu vực địa hình. Phân tích và nắm rõ
đặc điểm địa hình sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh trong giai đoạn hiện nay và thời gian tiếp theo.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN