Các ngành dịch vụ ở Hải Phòng

Giao thông vận tải

Hải Phòng là một trong những đầu mối giao thông lớn ở phía Bắc với hệ thống đường ô tô, đường sắt, đường sông, đường biển tương đối phát triển.

– Mạng lưới đường ô tô của Hải Phòng được xây dựng khá sớm. Thành phố là đầu mối của hai trục đường chính : quốc lộ 5 nối liền cảng Hải Phòng với thủ đô Hà Nội và quốc lộ 10 chạy vắt qua 5 huyện ngoại thành, nối vùng than Quảng Ninh ở phía bắc với vùng lúa Thái Bình ở phía nam.

 

Tổng chiều dài đường ôtô của Hải Phòng là trên 1500 km, trong đó có hơn 473 km đường nhựa, khoảng 300 km đường rải đá và hơn 780 km đường cấp phối các loại. Đáng lưu ý là quốc lộ 5 dài hơn 100 km đã được nâng cấp, đạt tiêu chuẩn cấp 1 đường đồng bằng với bề mặt rộng 23 m, nối Hải Phòng và Hà Nội. Quốc lộ 10 dài 156 km, nối Hải Phòng với Thái Bình, Quảng Ninh. Cùng với việc xây dựng các cầu Tiên Cựu, Quý Cao, Hải Phòng sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong mối quan hệ với các tỉnh ở phía nam Đồng bằng sông Hồng.

– Tuyến đường sắt Hải Phòng – Hà Nội trực tiếp nối với các tuyến đi Lào Cai – Vân Nam, Lạng Sơn – Quảng Tây và tuyến đường xuyên Việt. Đây là tuyến quan trọng và trở thành cửa vào ra của các tỉnh ở Đồng bằng sông Hồng nói riêng và Bắc Bộ nói chung.

– Hải Phòng có nhiều thuận lợi trong việc phát triển giao thông vận tải đường biển. Nằm cách đường hàng hải quốc tế hon 50 hải lí, với đường bờ biển dài và 5 cửa sông lớn, Thành phố trở thành cửa ngõ giao lưu quan trọng. Từ đây có các tuyến đường biển nối Hải Phòng với các vùng khác trong nước và với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Đáng chú ý là hệ thống cảng biển. Là một cảng lớn, cảng Hải Phòng gồm cảng chính, cảng Vật Cách, cảng Chùa Vẽ mới xây đựng và một số cảng nhỏ khác.

đường sắt Hải Phòng

Ở khu vực cảng chính có một cầu cảng dài 1717 m, trong đó 412 mét cầu cảng dành cho xếp dỡ côngtennơ và có thể neo đậu tàu có trọng tải tới 10.000 tấn. Ở khu vực cảng Chùa Vẽ có hai cầu cảng, mỗi cầu dài 330 mét được sử dụng để xếp dỡ tàu côngtennơ có trọng tải 10.000 tấn. Cảng Chùa Vẽ là cảng hàng rời, côngtenna và là kho xăng dầu.

Cảng Vật Cách gồm bến than, gỗ, bến cho tàu biển nhỏ, tàu sông và cho cụm cơ khí sửa chữa đóng tàu Bến Kiền. Các bến lẻ ở Quỳnh Cư dành cho chuyên chở vật liệu xây dựng là chính ; 2 bến chuyên dùng cho nhà máy xi măng, cho các họng bơm dầu.

Cảng Hải quân ở phía hạ lưu của cảng Chùa Vẽ vẫn dành cho quân sự, vì cảng Chùa Vẽ chưa có nhu cầu mở rộng đến đây.

Cảng Đình Vũ sẽ dành riêng cho khu chế xuất Đình Vũ sau này.

Cảng Minh Đức (cạnh khu khai thác đá Tràng Kênh) là cảng chuyên dùng cho nhà máy xi măng (tàu 5000 tấn) của công ty Chinh Fong để chuyên chở xi măng và clanhke, cho xưởng sửa chữa tàu sà lan của ngành xi măng, đồng thời có thể cho cụm nhà máy hóa chất Minh Đức.

Cảng Phà Rừng 1 (trên sông Bạch Đằng) ỉà cảng cho tàu chuyên dùng của nhà máy đóng và sửa chữa tàu biển (thuộc huyện Thủy Nguyên).

Cảng Phà Rừng 2 (trên sông Bạch Đằng) là cảng dùng cho cụm nhà máy sữa chữa tàu (dự kiến trong quy hoạch)

Cảng Cát Bà nằm trong vụng của đảo cùng tên, dùng cho tàu thuyền đánh bắt hải sản và là cảng vận chuyển khách từ Cát Bà vào thành phố và ngược lại.


Ngoài ra, thương cảng Cửa Cấm hiện nay cũng đang được xây dựng …

– Hải Phòng có sân bay Cát Bi, chủ yếu đưa đón khách du lịch tới từ thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và ngược lại. Sân bay nhỏ, phương tiện còn thô sơ, chưa có ý nghĩa nhiều đối với việc phát triển kinh tế hiện nay.

– Trong tương lai, giao thông vận tải của thành phố sỗ được phát triển mạnh hơn, đặc biệt là hệ thống cảng.

Cảng vốn là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình phát triển của Thành phố từ hơn 100 năm nay, Chiến lược phát triển cảng Hải Phòng có quan hệ với việc giải quyết một số vấn đề then chốt sau đây:

Sự phân công và hạp tác cùng phát triển giữa 2 nhóm: cảng Hải Phòng và cảng Quảng Ninh (hệ thống cảng biển thuộc Quảng Ninh từ Cái Lân đến cửa ông dài 40 km).

Việc phát triển cảng Hải Phòng phụ thuộc vào khả năng thực hiện các dự án đầu tư chính trị luồng lạch, bảo đảm cho tàu 1 vạn tấn ra vào cảng dễ dàng. Do đó, việc đầu tư nạo vét chính trị luồng lạch có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát huy vị trí chiến lược thuận lợi vốn có, triệt để khai thác cơ sở vật chất hiện có, giảm bớt áp lực vận tải tại khu vực Quảng Ninh.

Việc tiếp tục phát triển cảng Hải Phòng không tách rời các biện pháp nhằm triệt để khai thác các cụm cảng hiện có: Vật Cách, Hoàng Diệu, Chùa Vẽ, trên cơ sở sắp xếp lại hệ thống kho bãi, nạo vét luồng lạch, cải tiến thiết bị, đổi mới công tác điều hành, phân rõ chức năng phục vụ cho việc vận chuyển các hàng quá cảnh, hàng nông phẩm, và côngtennơ…

Từng bước chuyển hướng đầu tư phát triển hệ thống cảng, kho bãi nằm dọc sông Cấm sang dọc sông Bạch Đằng (từ bến Rừng đến Đinh Vũ) – nơi không bị sa bồi và có điều kiện phát triển các loại cảng chuyên dụng, cảng tổng hợp, tạo tiền đề để xây dựng các khu kinh tế mở, thu hút đầu tư từ nước ngoài…

Hải Phòng sẽ xây dựng cầu Bính gắn với sự phát triển khu vực đổ thị mới Bắc sông Cấm, thuộc địa phận huyện Thủy Nguyên hiện nay. Cảng sẽ được hiện đại hóa theo hướng côngtenna – hóa, luồng lạch được chỉnh trị để tàu 1 vạn tấn ra vào thuận lợi, nhằm đạt công suất 6 – 7 triệu tấn – năm 2000 ; 10 – 15 triệu tấn – năm 2010. Cảng nước sâu tại Đình Vũ sẽ xây dựng giai đoạn tiếp theo và xem xét khả năng duy trì khu chuyển tải Trà Báu dưới góc độ phát triển bẻn vững gán với vịnh Hạ Long. Sân bay Cát Bi sô được nâng cấp thành sân bay quốc tế để có điều kiện tiếp nhận máy bay loại lớn. Cùng với việc mở rộng quan hệ quốc tế và hoạt động du lịch sẽ mở thêm các tuyến bay quốc tế đến các nước trong khu vực

Thông tin liên lạc

Trong những năm qua, ngành bưu chính viễn thông của Hải Phòng đã có những tiến bộ vượt bậc nhằm đáp ứng nhu cầu của công cuộc đổi mới, mặc dù vẫn còn ở mức độ thấp so với Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Về cơ bản, các trang thiết bị cũ, lạc hậu đa dần dần được thay thế. Năm 1994, Hải Phòng đã đưa vào sử dụng tổng đài điện tử tự động 5000 số. Năm 1995 tiếp tục đưa vào sử dụng tổng đài 13.500 số… Lượng máy điện thoại tăng lên khá nhanh, từ 18.260 chiếc – năm 1995 tới 55.180 chiếc – năm 1998.

Trong chương trình hiện đại hóa hệ thống thông tin liên lạc, Thành phố đã chủ trương phát triển hệ thống thông tin di động, mở rộng các dịch vụ điện báo, điện thoại công cộng, tiến tới 100% số xã có điện thoại…

Thương mại đầu tư

– Về nội thương, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ của thành phố trong vài năm gần đây dao động trong khoảng trên 3000 tỉ đồng (3245,7 tỉ đồng – năm 1998). Trong tương lai, Hải Phòng tiếp tục củng cố và xây dựng các trung tâm thương mại gắn với các cụm đô thị.

Các trung tâm thương mại chính của Hải Phòng trong tương lai là:

Trung tâm thương mại Chợ Sắt: Khu vực này đã có từ lâu, nằm ở trung tâm của Thành phố, có truyền thống vỗ buôn bán và giao lưu hàng hóa.

Trung tâm thương mại khu vực Đồ Sơn: Phục vụ cho dân cư địa phương và khách du lịch, là nơi trưng bày, giới thiệu, trao đổi, kí kết, mua bán hàng hóa sản xuất tại khu chế xuất và khu công nghiệp.


Trung tâm thưưng mại khu vực Đình Vũ, Cát Bà : Sẽ phát triển cùng với khu chế xuất và khu kinh tế đảo Cát Bà.

Về ngoại thương, kim ngạch xuất khẩu trực tiếp của Hải Phòng đạt mức trên dưới 200 triệu USD. Năm 1998, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là thảm len (19 nghìn m2), hàng may mặc (hơn 1,5 triệu sản phẩm), giày dép (hơn 18,4 triệu đôi), thịt lợn chế biến (gần 3,8 nghìn tấn), hải sản đông lạnh (gần 12,5 nghìn tấn)

Các mặt hàng nhập khẩu chính là sát thép (hơn 48 nghìn tấn), đạm urê (256 nghìn tấn), nguyên liệu thuốc lá (hơn 2000 tấn), xe máy (hơn 10 nghìn chiếc)…

– Việc thu hút vốn đầu tư có ý nghĩa đặc biệt đối với thành phố Hải Phòng. Trong thời kì 1988 – 1999 đã có 108 dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài với tổng vốn đăng kí là 1507,7 triệu USD,trong đó vốn pháp định là 669,1 triệu USD. Riêng năm 1999 thành phố thu hút được 13 dự án tổng vốn đăng kí 40,3 triệu USD, trong đó vốn pháp định là 19,7 triệu USD (phía Việt Nam góp 2,3 triệu USD)

Du lịch

Du lịch là một trong những thế mạnh của Hải Phòng. Với tiềm năng sẵn có, ở đây có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như tham quan (trên đất liền, biển, đảo), nghỉ dưỡng (chủ yếu ở vùng biển), sinh thái (biển, đảo), thể thao (chủ yếu ở vùng biển), cuối tuần (vùng biển)… Trong mối quan hệ với Hà Nội và Quảng Ninh, thành phố có thể phát triển và đa dạng hóa các loại hình du lịch.

Ở Hải Phòng đã và đang hình thành một số cụm du lịch :

– Cụm Hải Phòng với các sản phẩm tiêu biểu là quá cảnh, tham quan các di tích văn hóa – lịch sử, hội nghị, hội thảo.

– Cụm Đồ Sơn với các sản phẩm đặc trưng là nghỉ dưỡng, tắm biển, thể thao, vui chơi giải trí, hội thảo.

– Cụm Cát Bà và phụ cận với các sản phẩm chủ yếu liên quan đến du lịch sinh thái, tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng, thể thao.

– Ngoài ra có thể xây dựng các cụm (tiềm năng) như Thủy Nguyên (tham quan, nghiên cứu, thể thao), Vĩnh Bảo (tham quan, nghỉ dưỡng chữa bệnh).

Các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia quốc tế, là bán đảo Đồ Sơn và đảo Cát Bà.

Đồ Sơn nằm cách trung tâm Hải Phòng 22 km về phía đông nam, giữa hai cửa sông Lạch Tray và Văn Úc. Đây là một bán đảo với đồi núi, rừng cây nối tiếp nhau dài khoảng 5 km. Cách mũi Ba Phúc Đông 1 km là đảo Hòn Dáu (có tháp hải đăng, đền thờ Nam Hải thân vương).

Đồ Sơn từ lâu đã nổi tiếng là nơi nghỉ biển. Ở đây có bãi 1 (dài và rộng nhất của bán đảo), bãi 2 (bãi tắm tốt nhất) và bãi 3 (ít thuận lợi cho việc tắm biển). Ngoài ra, khu hệ sinh vật biển tương đối phong phú và hội chọi trâu cũng có khả năng thu hút khách du lịch.

Cát Bà là một quần đảo, gồm 366 hòn đảo lớn nhỏ với đảo chính cùng tên, cách Hải Phòng khoảng 60 km về phía đông nam. Đáng lưu ý nhất là Vườn Quốc gia Cát Bà, có thể phát triển du lịch sinh thái. Ngoài ra trên đảo còn có một vài bãi tắm (Cát Cò 1, Cát Cò 2, Cát Dứa, Cát Quyền, Đượng Gianh…)và di tích văn hóa, lịch sử.

Du lịch của Hải Phòng phát triển tương đối nhanh. Số khách du lịch quốc tế đến thành phố tăng liên tục từ 54.687 người – năm 1995 lên 68.589 người – năm 1997 và khoảng 173.000 người – năm 1999. Cũng trong thời gian trên, số khách du lịch nội địa tương ứng là 37,5 vạn ; 54,5 vạn và 64,5 vạn.

Hải Phòng có nhiều lợi thế về vị trí địa lí, tự nhiên, kinh tế- xã hội. Cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, nền kinh tế của Thành phố cảng trong những năm tới chắc chắn sẽ phát triển mạnh hơn nữa nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN