Các ngành dịch vụ tỉnh Hà Nam

Các ngành dịch vụ như thương mại, tài chính, ngân hàng, du lịch… giữ vai trò ngày càng quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Ngành dịch vụ của Hà Nam có mức tăng trương khoảng 8,7%/năm. Sự phát triển của ngành đa góp phân đáng kể vào sự ổn định và phát triển chung của nền kinh tế.

Thương mại

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngành thương mại Hà Nam có sự phát triển mạnh mẽ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ của tỉnh có xu hướng ngày càng tăng. Năm 1991 đạt khoảng 350 tỉ đồng, năm 1996 tăng lên đạt 725,4 tỉ đồng, năm 1998 đạt 1160,2 tỉ đồng.

Với địa bàn nông thôn là chủ yếu, mặc dù nhu cầu tiêu dùng của người dân còn thấp, nhưng Hà Nam vẫn là một thị trường tiêu thụ khá lớn. Các mặt hàng tiêu dùng chủ yếu và thông thường là lương thực, thực phẩm, muối, dầu hỏa, vải, giấy, vở học sinh, đồ dùng gia đình. Các mặt hàng tiêu dùng thông thường chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu hàng hóa bán buôn, bán lẻ trong tỉnh. Các mặt hàng cao cấp có chất lượng như hàng điện tử, điện lạnh… chủ yếu tiêu thụ ở các thị trường thị xã và các thị trấn.

Các mặt hàng bán ra ngoài tỉnh chủ yếu là đá, xi măng, gạch, vôi, vải màn, ta tằm, lương thực, thịt, trứng, rau, hoa quả… Thị trường tiêu thụ chủ yếu là Hà Nội và các tỉnh Nam Định, Thái Bình v.v…

Các mặt hàng từ ngoài tỉnh cung cấp cho Hà Nam là xăng dâu, sắt thép, phân bón, thuốc trừ sâu… và các loại hàng hóa tiêu dùng. Hàng hóa đưa vào Hà Nam chủ yếu là từ Hà Nội và một số tỉnh Bắc Bộ, thành phố Hồ Chí Minh…và một phần được nhập khẩu từ nước ngoài.

Mạng lưới chợ là một bộ phận cấu thành quan trọng của mạng lưới thương mại ở mỗi tỉnh, mỗi vùng cũng như cả nước. Ở Hà Nam, đến tháng 10/1999 có 114 chợ. Trong đó số chợ ở khu vực thành thị là 9, chợ ở khu vực nông thôn có 105. Mật độ bình quân là 1,4 chợ trên 1 vạn dân ; khoảng 1,4 chợ trên 10 km2 và 1 chợ trên 1 xã, phường. Các chỉ số trên của Đồng bằng sông Hồng là 1,1 chợ trên 1 vạn dân, 1,3 chợ trên 10 km2, 0,8 chợ trên 1 xã, phường.

Mạng lưới chợ của Hà Nam phân bố tương đối đều khắp trên các huyện thị, song tập trung cao nhất ở Phủ Lý, thấp nhất ở Bình Lục.

Năm 1991 kim ngạch xuất khẩu của tỉnh mới có 426 nghìn USD. Đến năm 1995 đạt 1769 nghìn USD và năm 1999 đã tăng lên 13.800 triệu USD.

Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Hà NamNhững mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Hà Nam

Du lịch

Hàng xuất khẩu của Hà Nam chủ yếu là nông sản và nông lâm sản chế biến như : hàng mây tre đan, lạc nhân, hàng thêu ren, gạo các loại.

Với những tiềm năng về tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn), Hà Nam có điều kiện phát triển các loại hình du lịch như : du lịch quá cảnh, du lịch tham quan, lễ hội, du lịch sinh thái, du lịch thể thao. Hằng năm, Hà Nam thu hút khoảng 300 – 400 lượt khách quốc tế và khoảng 9 – 10 nghìn khách du lịch trong nước (gồm khách đến từ Hà Nội và các tỉnh phụ cận như Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, Hà Tây… và khách du lịch quá cảnh đi chùa Hương). Khách du lịch nội địa đến Hà Nam chủ yếu tham quan các đền chùa, miếu mạo và tham gia các lễ hội truyền thống, nghỉ dưỡng.

Không gian du lịch của Hà Nam phát triển theo hướng đông – tây gắn Phủ Lý – Kim Bảng với khu du lịch Hương Tích – một trong những khu du lịch hấp dẫn của trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận. Một không gian du lịch sinh thái khác là theo dòng sông Châu tham quan các vùng cây ăn quả ở Lý Nhân, Duy Tiên.

Hà Nam có một số điểm, cụm và tuyến du lịch chủ yếu sau đây :


Các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia và quốc tế :

Nằm trên khu vực núi Cấm bên quốc lộ 21, cách thị xã Phủ Lý khoảng 8km, đền Trúc được xây dựng từ thế kỉ XII – XIII để thờ Lý Thường Kiệt. Kiến trúc của đền mang dáng dấp kiến trúc thế kỉ XVII – XIX. Hằng năm vào dịp đầu xuân, tại đền Trúc lại tổ chức lễ hội, trình diễn hát dậm để tưởng nhớ về người anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt, về thâm đền Trúc,du khách không thể không ghé thăm Ngũ Động Sơn nằm kề với hệ thống 5 hang nối liền nhau tạo thành một dãy động liên hoàn có chiều sâu từ ngoài vào trong trên 100m. Đây là nơi có cảnh quan đặc biệt hấp dẫn.

Hà Nam còn có núi Ngọc và chùa Bà Đanh nằm ở tả ngạn sông Đáy, đối diện với Ngũ Động Sơn.

Các điểm du lịch có ý nghĩa vùng và địa phương:

Đây chủ yếu là các di tích tịch sử, văn hóa, nghệ thuật đa được xếp hạng của Hà Nam.

Ở huyện Kim Bảng có đình Phương Thượng (xã Lê Hồ), đình Thượng (xã Thanh Sơn)…

Ở huyện Duy Tiên có chùa Đọi Sơn (xã Đọi Sơn), đình Tường Thụy, chùa Bạch Liên (xã Trác Văn), đình Lũng Xuyên (xã Yên Bắc), chùa Khánh Long (Kã Châu Giang), đình Khả Duy (xã Mộc Bắc), đền Lảnh (xã Mộc Sơn).

Ở huyện Thanh Liêm có núi Kẽm Trống (xã Thanh Hải), đình, chùa Châu (thị trấn Kiện Khê), quần thể di tích Đinh – Lê (Liêm Cần), đình Đống cầu (Liêm Túc).

Ở huyện Lý Nhân có đình Vãn Xá (xă Đức Lý), đền Trần Thương (xã Nhân Đạo), đình Vĩnh Trụ (thị trấn Vĩnh Trụ), đền Bà Vũ, đình Đồng Lư (xã Chân Lý),đình Thọ Chương (Đạo Lý).

Ở huyện Bình Lục có núi Nguyệt Hằng (An Lao), đình Công Đồng (An Mỹ), từ đường Nguyễn Khuyến (Trung Lương), đình Triều Hội (Bồ Đề), đình Cổ Viễn (Hưng Công)

Các cụm du lịch:

Cụm du lịch trung tâm thị xã Phủ Lý và phụ cận với chức năng chủ yếu là hoạt động dịch vụ và điều phối hoạt động du lịch chung của tỉnh.

Cụm du lịch Kim Bảng với hạt nhân là điểm du lịch Đền Trúc và Ngũ Động Sơn. Ngoài ra ở đây còn có thể khai thác cảnh quan để tạo thành một khu vui chơi giải trí, du lịch sinh thái hấp dẫn, và là điểm xuất phát của khách trong vùng (đặc biệt là từ phía nam) đến khu thắng cảnh Hương Tích.

Cụm du lịch Lý Nhân với hạt nhân là đền Trần Thương.


Cụm du lịch Duy Tiên với hạt nhân là chùa Đọi và đền Lảnh.

Các tuyến du lịch:

Tuyến du lịch theo trục quốc lộ 21 là tuyến du lịch chính, khai thác điểm du lịch đền Trúc – Ngũ Động Sơn, điểm du lịch Hương Tích (Hà Tây), cũng như các điểm đu lịch có ý nghĩa quốc gia và quốc tế của Nam Định.

Tuyến du lịch Quảng Ninh – Hải Phòng – Hải Dương – Yên Lệnh – Đồng Văn – Kim Bảng – Chùa Hương cũng là một tuyến có khả năng phát triển mạnh trong tương lai.

Đền Trúc - Ngũ Động Sơn
Đền Trúc – Ngũ Động Sơn

Giao thông vận tải

Đường bộ

Mạng lưới giao thông đường bộ của Hà Nam phát triển sớm và khá hoàn chỉnh. Tổng chiều dài đuờng bộ hiện có gần 5000 km, trong đó quốc lộ có gần 100 km, tỉnh lộ gồm 12 tuyến với tổng chiều dài là 120 km. Đường giao thông nông thôn (tù đường huyện đến đường làng ngõ xóm và đường ra đồng ruộng) với tổng chiều dài trên 4000 km.

Các tuyến đường bộ chính chạy qua lãnh thổ Hà Nam là:

Quốc lộ 1A chạy qua địa phận Hà Nam từ cầu Giẽ đến cầu Đoan Vĩ, dài 36 km ;

Quốc lộ 21 A chia làm 2 nhánh : đoạn Phủ Lý – Cầu Họ dài 15,48 km, đoạn Phủ Lí đi Ba Sao – Hòa Bình dài 24 km ;

Quốc lộ 21B, đoạn Chợ Dầu – Ba Đa dài 16,8 km ;

Ngoài ra còn có đường 60A và 60B nối với đường Quốb lộ 1A tại Đồng Văn.

Đường sắt

Đường sắt xuyên Việt đoạn đi qua Hà Nam hiện dài hơn 30 km. Đây là tuyến đường sắt đã có từ lâu đời và hiện vẫn giữ ở khổ đường 1m. Có 4 ga đều là ga loại 4 hoặc 5 (ga xép). Ngoài ra có gần 10 km đường sắt chuyên dùng nối từ ga Phủ Lý đến khu mỏ đá Kiện Khê.

Đường sông

Hệ thống đường sông của Hà Nam rất phong phú với độ dài hơn 200 km, trong đó có gần 100 km của 2 con sông chính ở Bắc Bộ là sông Hồng và sông Đáy. Các đường sông khác tuy nhiều, lại phân bố ở hầu hết các huyện (trên 100km của gần 10 con sông lớn nhỏ), nhưng tác dụng phục vụ vận tải rất hạn chế, bởi vướng các đập, cống như : đập Vĩnh Trụ, đập Trung, đập Phúc, cống Phủ Lý, cống Điệp Sơn.

Hà Nam chưa có cảng sông chính thức do ngành giao thông quản lí. Hiện nay mới chỉ có các cảng, bến bãi chuyên dùng như cảng Đọ Xá, cảng Kiện Khê, cảng của nhà máy xi măng Bút Sơn, bến Vĩnh Trụ, bến An Bài, bến Điệp Sơn. Phần lớn các cảng, bến bãi đều phát triển tự nhiên. Trong tương lai sẽ xây dựng các cảng Như Trác (800.000 tấn/năm) và Đọ Xá (800.000 tấn/năm).

Năm 1998, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 878 nghìn tấn, khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 34,7 triệu tấn,km ; khối lượng hành khách vận chuyển đạt 0,8 triệu lượt người, khối lượng hành khách luân chuyển đạt 86,5 triệu lượt người.

 



BÀI VIẾT LIÊN QUAN