Đặc điểm hoạt động dịch vụ kinh tế của Hà Nội

Giao thông vận tải, thương mại, du lịch có ý nghĩa rất lớn trong các ngành kinh tế của Thủ đô. Là một trung tâm kinh tế lớn với số dân hơn 2 triệu người, các hoạt động kinh tế – xã hội của thành phố không thể thực hiện tốt được nếu các ngành giao thông vận tải, thương nghiệp và dịch vụ phát triển chậm.

Giao thông vận tải

Hà Nội là một đầu mối giao thông quan trọng của cả nước với sự hội tụ của nhiều tuyến đường bộ, đường sắt, đường sông và đường hàng không. Hệ thống giao thông này cho phép nối liền Thủ đô với các tỉnh trong nước và thế giới bên ngoài.

Mạng lưới đường bộ trên lãnh thổ Hà Nội tương đối phát triển. Không kể các đường phố trong nội thành (200 km), mật độ đường giao thông của thành phố đạt 3,062km đường/km2. Nhiều tuvến đường quan trọng như quốc lộ 1, 3, 5, 6…đã đi qua thành phố, tạo nên mối liên hệ chặt chẽ giữa Hà Nội với các địa phương khác.

Hù Nội là đầu mối giao thông đường sắt quan trọng nhất, lớn nhất trong cả nước. Hội tụ về đây có 5 tuyến đường chính : Hà Nội – Hải Phòng, Hà Nội – thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội – Lạng Sơn, Hà Nội – Thái Nguyên và Hà Nội – Lào Cai. Mạng lưới đường sắt góp phần to lớn trong việc phát triển kinh tế – xã hội của Thủ đô.

Mạng lưới đường sông chủ yếu là sông Hồng và một số nhánh của nó. Với cảng Hà Nội (công suất thiết kế 1,3 triệu tấn/năm), thành phố có thể trao đổi hàng hóa với phần lớn các tỉnh phía Bắc thông qua các cảng Việt Trì, Nam Định, Thái Bình, Đáp Cầu, Bắc Giang…

Mạng lưới đường hàng không với sân bay quốc tế Nội Bài và sân bay Gia Lâm là cầu nối giữa nước ta với thế giới và khu vực. Tại các sân bay này, hãng hàng không dân dụng Việt Nam đang khai thác nhiều tuyến bay trong và ngoài nước. Ngoài ra, ở đâỵ còn tiếp nhận máy bay của các hãng hàng không thuộc một số nước trên thế giới.

Về phương diện vận tải, các phương tiện giao thông vận tải của Hà Nội đã chuyên chở một khối lượng hàng hóa và hành khách khá lớn.

các phương tiện giao thông vận tải của Hà Nội

Bưu chính viễn thông

Ngành bưu chính viễn thông của Thủ đô đã được đầu tư đáng kể và phát triển với tốc độ nhanh. Đã lắp đặt trạm thông tin vệ tinh kĩ thuật số, liên hệ với hệ thống vệ tinh của tổ chức Intelsal, qua đó Hà Nội đã liên lạc tự động với hầu hết các nước trên thế giới. Dịch vụ điện thoại gọi quốc tế IDD đã có mặt ở tất cả các quận, huyện. Việc liên lạc điện thoại trực tiếp trong nước rất thuận lợi. Cho đến nay, toàn thành phố đã lắp đặt 336.445 máy điện thoại. Mật độ điện thoại đặt 12,6 máy/100 dân, cao gấp gần 5 lần so với mật độ trung bình toàn quốc (2,7 máy/100 dân) và gấp 3,5 lần so với vùng Đồng bằng sông Hồng.

Thương mại

Dưới tác động của các chính sách mới,hoạt động thương mại ở Hà Nội có điều kiện phát triển mạnh.


Trong thương mại, tồn tại nhiều thành phần kinh tế. Năm 1998, Hà Nội có 260 cửa hàng thương mại quốc doanh, trong khi đó có tới trên 6,1 vạn hộ kinh doanh buôn bán. Hoạt động thương mại trở nên tấp nập do việc mở rộng các thành phần kinh tế và việc chuyển sang nền kinh tế thị trường. Các cửa hàng thương mại quốc doanh lúc đầu lúng túng trước sự thay đổi của cơ chế thị trường, đã dần dần thích nghi được với tình hình mới.

Trong tổng lực lượng lao động tham gia ngành kinh tế này, phần thương nghiệp ngoài quốc doanh chiếm gần 65%. Tương quan về tổng mức bán xã hội giữa phần quốc doanh và ngoài quốc doanh là 30/70.

Đẩy mạnh xuất khẩu là chủ trương được thành phố quan tâm. Vềphương diện nàỵ, Hà Nội có nhiều tiềm năng. Tuy nhiên, trong thực tế, giá trị kim ngạch xuất khẩu cua thành phố chưa cao. Năm 1997, giá trị hàng xuất khẩu của thành phố mới đạt mức 1200 triệu USD. Các mặt hàng xuất khẩu chính là hàng may mặc, hàng dệt kim, giày vải, thảm len, rau và hoa quả tươi, Các mặt hàng nhập phần nhiều là hóa chắt, phân bón, nguyên liệu cho công nghiệp, máy móc thiết bị, phụ tùng, hàng đầu dùng…

Du lịch

Du lịch là một trong nhiều thế mạnh của Thủ đô. Ngoài chức năng hành chính, chính trị, kinh tế và văn hóa, Hà Nội còn là một trung tầm du lịch có sức hấp dẫn đối với cả nước.

Vị trí thủ đô của Hà Nội có ý nghĩa đặc biệt đối với việc phát triển du lịch. Nằm ở trung tâm Bắc Bộ, giữa vùng đồng bằng châu thổ màu mỡ với kết cấu hạ tầng tương đối phát triển, thành phố có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đặc biệt là tài nguyên văn hóa, lịch sử.

Với gần 1000 năm văn hiến, Hà Nội đã lưu giữ được nhiều di tích văn hóa – lịch sử có giá trị đối với hoạt động du lịch. Các di tích lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc ở đây đã tạo thành bộ sưu tập quý giá trong kho tàng di sản văn hóa của Việt Nam. Mật độ di tích của Thủ đô vào loại cao nhất của cả nước với nhiều loại di tích độc đáo, gắn liền với quá trình dụng nước và giữ nước (thành cổ Loa, khu di tích Phù Đổng, khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh v.v…),cùng với những di tích văn hóa, kiến trúc nổi tiếng tiêu biểu của dân tộc (khu Văn Miếu, quần thể đình, chùa v.v… Đó là chưa kể đến các viện bảo tàng, các hoạt động văn hóa – văn nghệ dân gian (các lễ hội) có sức thu hút khách du lịch.

Ngoài ra, để phục vụ cho khách du lịch trong và ngoài nước, Hà Nội còn có mạng lưới giao thông thuận lợi, hệ thống các khách sạn, nhà hàng, cửa hiệu và hàng loạt dịch vụ khác.

Tính đến cuối năm 1999, Hà Nội có 331 khách sạn với 9369 phòng, bao gồm 101 khách sạn quốc doanh, 17 khách sạn liên doanh với nước ngoài và 214 khách sạn ngoài quốc doanh. Trong số này đã có 67 khách sạn được xếp sao (3 khách sạn 5 sao, 3 khách sạn 4 sao, 18 khách sạn 3 sao, 30 khách sạn 2 sao và 13 khách sạn 1 sao). Lượng khách du lịch nước ngoài đến thành phố là 380 nghìn lượt, còn số lượt khách trong nước là 1050 nghìn. Tổng doanh thu đạt được 1225 tỉ đồng, nộp ngân sách 170 tỉ đồng.

Những số liệu nói trên còn rất nhỏ bé so với tiềm năng to lớn của Thủ đô. Để đẩy mạnh hoạt động du lịch, cần phải có hàng loạt biện pháp đồng bộ.

Vấn đề trọng tâm của ngành du lịch thành phố là tập trung vào việc nâng cấp kết cấu hạ tầng (mạng lưới giao thông, hệ thống cung cấp điện nước, thông tin liên lạc) và cơ sở vật chất – kỹ thuật của ngành (hệ thống khách sạn, nhà hàng).



BÀI VIẾT LIÊN QUAN