Địa hình tỉnh Bình Phước

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH

Tỉnh Bình Phước là tỉnh miền núi trung du nằm về phía tây của vùng Đông Nam Bộ, tiếp từ bậc thềm phù sa cổ đến đồi núi thấp dạng vòm phủ bazan và đến núi trung bình thấp dạng dải kéo dài của các trầm tích lục nguyên và phun trào bazan khe nứt với độ cao thay đổi từ khoảng 30m đến 500m (cá biệt có một số khu vực có độ cao 723m tại núi Bà Rá và phần phía đông bắc tỉnh), tiếp giáp các cao nguyên Bảo Lộc, Di Linh và Đắk Nông.

Địa hình có dạng đồi thấp thoải lượn sóng nối liền với nhau tạo thành dạng địa hình yên ngựa, nhiều nơi dạng địa hình bát úp, ít bị đứt gãy sâu và thấp thoải dần về phía tây và tây nam. Với vị trí chuyển tiếp từ miền núi và cao nguyên xuống đồng bằng, Bình Phước là địa hình trung du, có nhiều đồi núi thấp.

Về phía đông bắc tỉnh có các dải núi cao kéo dài theo hướng tây bắc – đông nam. Ngoài ra, cũng về phía đông bắc có độ dốc phổ biến <15º, chiếm khoảng 70% diện tích tự nhiên. Chịu ảnh hưởng của vận động kiến tạo nâng lên và uốn nếp ở phía đông bắc và sụt lún ở phía tây nam, nên tỉnh có dạng địa hình thoải, lượn sóng, nghiêng theo hướng đông bắc – tây nam. Tuy tỉnh Bình Phước có độ cao địa hình trung bình từ 200 – 300m, nhưng riêng ở phía
đông bắc, phần giáp cao nguyên Mnông và núi Sát (tỉnh Đắk Nông), có dạng địa hình cao nguyên thấp, độ cao trên 300m. Về phía tây nam, địa hình chuyển xuống vùng đồi và độ cao giảm dần, độ cao trung bình trên 100m so với mực nước biển (ở thị xã Bình Long, huyện Hớn Quản, huyện Chơn Thành và thị xã Đồng Xoài). Xen trong các dạng địa hình chính vừa nêu là những thung lũng nhỏ hẹp kéo dài ven hợp thủy và một số đồi núi cao dốc, vượt trội lên như núi Bà Rá (723m), núi Nam Đô (289m) và Núi Gió (169m).

núi Bà Rá
núi Bà Rá

Độ chia cắt của địa hình dao động từ 70 – 80m, địa hình phần phía bắc và đông (thuộc các huyện Bù Gia Mập, Bù Đăng và thị xã Phước Long) bị chia cắt khá mạnh do có đỉnh núi cao và lại có những dòng suối chảy sâu, dốc lớn, nước chảy xiết đã xâm thực làm cho những vết nứt ngày càng mở rộng và sâu hơn, hình thành nhiều thung lũng sâu, làm cho giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, có nơi bề mặt địa hình khá cao và bằng phẳng như một bán bình nguyên thu nhỏ (ở huyện Bù Đốp, Bù Đăng và thị xã Phước Long).

Phía tây và phía nam thoải dần, độ cao trung bình so với mực nước biển từ 100 – 200m. Khu vực này tập trung khá nhiều đồi thấp, xen các thung lũng rộng và nông rất thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp. Tại khu vực thị xã Đồng Xoài, địa hình hơi giống một lòng chảo có xu hướng trũng dần vào giữa. Thị xã Đồng Xoài có lúc thời tiết nóng, nhiệt độ cao vào bậc nhất cả nước.

CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐỊA HÌNH

Nhóm các nhân tố nội sinh

Nhóm các nhân tố nội sinh có vai trò quan trọng trong việc tạo nên cơ sở vật chất ban đầu những đường nét cơ bản của địa hình. Nhóm này gồm có vận động kiến tạo và kiến trúc địa chất.

– Vận động kiến tạo là nguyên nhân dẫn đến các hoạt động như uốn nếp, đứt gãy, phun trào mắc ma, nâng cao và hạ thấp địa hình, bồi lấp các bồn trũng lục địa, là một trong những yếu tố có vai trò quan trọng để hình thành nên địa hình khu vực tỉnh Bình Phước. Khu vực tỉnh Bình Phước nằm trên khối nâng móng kết tinh Sài Gòn thuộc miền vỏ lục địa tiền Cambri Nam Việt Nam. Trong phạm vi này có các thành tạo lớp phủ kiểu thềm lục địa yên tĩnh trong Permi muộn – Trias sớm, kiểu hoạt hóa lục địa trong Trias giữa, kiểu rìa lục địa bình ổn trong Jura sớm, kiểu rìa lục địa tích cực trong Jura muộn, kiểu căng giãn nội lục có phun trào bazan cao nguyên trong Kainozoi và các lớp phủ trầm tích Miocen – Đệ Tứ. Thông qua các hoạt động
kiến tạo, các giai đoạn hình thành địa chất, địa hình từng bước được hình thành. Quá trình hình thành địa chất và địa hình khu vực Bình Phước như sau:

Giai đoạn Permi muộn – Trias sớm: khu vực được cấu tạo bởi thành hệ carbonat và thành hệ lục nguyên với việc hình thành các đá lục nguyên – carbonat kiểu thềm lục địa bình ổn. Tập hợp thạch kiến tạo này thuộc hệ tầng Tà Nốt (P2 tn), hệ tầng Tà Thiết (P2 tt) và hệ tầng Sông Sài Gòn (T1 ssg).

– Vào giai đoạn hoạt hóa lục địa Trias giữa: các thành hệ lục nguyên – phun trào thuộc hệ tầng Bửu Long (T2 a bl) được hình thành.

– Trong Trias muộn: các trầm tích ven lục địa thuộc thành hệ molas của hệ tầng Dầu Tiếng (T3dt) được sinh ra trong chuyển động xô đụng. Các đá trầm tích này hiện nay chỉ lộ ra rất hạn chế ở khu vực bắc Lộc Ninh (gần cửa khẩu Hoa Lư) và Minh Hưng – Chơn Thành.

Vào Jura sớm: vùng Bình Phước cũng như đới Đà Lạt bị sụt lún, hình thành bồn nội lục, các đá thuộc thành hệ lục nguyên thành tạo trên rìa lục địa bình ổn thuộc hệ tầng Đrây Linh (J1 đl) được hình thành. Tầng kiến trúc này lộ ra khá phổ biến ở phía đông Đồng Xoài, Đồng Phú và thượng nguồn sông Bé giáp ranh Bù Đốp – Bù Gia Mập và rải rác ven hạ lưu sông Bé.

Đến Jura giữa: các trầm tích lục nguyên biển nông của hệ tầng La Ngà (J2 ln) thuộc loạt Bản Đôn được lắng đọng trên thềm lục địa thụ động với bề dày đến 2.000m. Các đá trầm tích lục nguyên này lộ ra khá phổ biến ở nửa phần phía đông huyện Bù Đăng.

Vào Jura muộn – đầu Creta: do quá trình hút chìm mảng Thái Bình Dương cổ về phía tây bên dưới mảng lục địa châu Á. Vùng này cũng như đới Đà Lạt nói chung trải qua các pha tạo núi khá mạnh mẽ với các hoạt động xâm nhập núi lửa loạt kiềm vôi. Trong giai đoạn này, các loạt đá xâm nhập granitoid kiểu I của phức hệ Định Quán (δJ3-K đq1, γδJ3-K đq2) và lục nguyên kiểu molas màu đỏ, được thành tạo trên thềm lục địa tích cực kiểu Andes.


Đến Miocen (N1) – Đệ Tứ (QIV): Là giai đoạn tạo lớp phủ trầm tích với sự xuất hiện của các điểm nóng dọc theo các đứt gãy tạo trường bazan ở vùng Đông Nam Bộ nói chung, bao gồm các lớp phủ rộng rãi bazan của hệ tầng Túc Trưng (βN2-QItt) và hệ tầng Xuân Lộc (βQIIxl). Bước sang cuối Pliocen (N22), phần lớn vùng Bình Phước nằm trong chế độ vũng vịnh cửa sông tạo nên các trầm tích của hệ tầng Bà Miêu (N22bm). Hoạt động của các sông cổ vào Đệ Tứ đã để lại di chỉ 3 thềm sông có phương kéo dài tây bắc – đông nam thuộc hệ tầng Đất Cuốc (aQI3đc), hệ tầng Thủ Đức (aQII-III tđ) và các trầm tích tuổi Holocen (QIV) có các nguồn gốc sông (aQIV1-2, aQIV32) và sông – đầm lầy (abQIV31) với các bãi bồi và trũng lòng chảo, cao thấp khác nhau.

– Ngoài các vận động kiến tạo, cấu trúc địa chất cũng góp phần quan trọng vào việc hình thành nên địa hình. Các nghiên cứu địa chất trên địa bàn tỉnh Bình Phước cho thấy, cấu trúc địa chất khu vực tỉnh Bình Phước đã được hình thành bởi nhiều loại trầm tích khác nhau như các trầm tích lục nguyên, các đá xâm nhập granitoid của phức hệ Định Quán (δ-γδJ3q), các phun trào bazan của hệ tầng Túc Trưng (βN2-QItt) và hệ tầng Xuân Lộc (βQIIxl), các trầm tích phù sa cổ và các trầm tích Đệ Tứ. Trầm tích lục nguyên gặp ở vùng Tà Thiết, bắc thị trấn Lộc Ninh và thượng nguồn sông Sài Gòn. Các đá xâm nhập granitoid của phức hệ Định Quán xuất hiện dưới dạng núi sót như núi Bà Rá (thị xã Phước Long) và núi Gió (thị xã Bình Long). Các phun trào bazan của hệ tầng Túc Trưng và hệ tầng Xuân Lộc bao phủ gần 2/3 diện tích tự nhiên tỉnh. Diện tích đất phù sa cổ rộng khoảng 1.611km²(chiếm khoảng 23,5% diện tích tự nhiên). Trầm tích Đệ Tứ có diện tích khoảng 214km² được phân bố dưới nhiều dạng khác nhau như các bãi bồi ven sông, suối, các thung lũng lũ tích, dốc tụ…

Nhóm các nhân tố ngoại sinh

Ngoài sự tác động của con người, các nhân tố ngoại sinh bao gồm các nhân tố cơ bản sau:

Khí hậu

Khí hậu Bình Phước nhìn chung bị chi phối bởi hai yếu tố quan trọng đó là: (i) Vị trí địa khu vực trong mối liên quan với hoàn lưu khí quyển và (ii) Địa hình vĩ mô của vùng. Đối với Bình Phước, là khu vực nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu với vĩ độ từ 11º18’ – 12º18’, trong vùng chịu ảnh hưởng của hai luồng tín phong chính: tây nam và đông bắc.

Địa hình của tỉnh thuộc dạng chuyển tiếp từ bậc thềm thấp đến đồi núi thấp với độ cao thay đổi từ khoảng 30m đến 500m, nghiêng dần từ tây nam lên đông bắc, gần như cùng hướng với hai luồng tín phong chính. Về phía đông bắc tỉnh có các dải núi cao 500 – 600m kéo dài theo hướng tây bắc – đông nam.

Sự xuất hiện của các dải núi cao trên địa bàn cùng với khối Nam Trường Sơn theo hướng gần như vuông góc với hai luồng tín phong chính có tác dụng như bức tường hứng hơi ẩm của gió tây nam vào mùa mưa và ngăn hơi ẩm của gió đông bắc vào mùa khô. Vì vậy, khí hậu Bình Phước, bên cạnh những đặc trưng của miền nhiệt đới cận xích đạo gió mùa còn có những nét đặc thù
riêng như mưa lớn vào mùa mưa, khô nóng hơn vào mùa khô và chế độ nhiệt ẩm trong phạm vi tỉnh có sự phân biệt khá rõ từ vùng thấp lên vùng cao theo hướng tây nam lên đông bắc, với xu hướng càng lên cao nhiệt độ càng giảm và lượng mưa càng lớn.

Bình Phước nằm trong khu vực có nền nhiệt độ cao đều quanh năm. Nhiệt độ trung bình hằng năm của các khu vực trong tỉnh là 23,0 – 26,3ºC, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất (tháng 4) tại Đồng Xoài là 28,3ºC, tại Phước Long là 27,6ºC và nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất (tháng 12) tại Đồng Xoài là 24,6ºC, tại Phước Long là 23,9ºC. Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất là 3,7ºC. Nhiệt độ trung bình tháng biến đổi so với nhiệt độ trung bình cùng kỳ nhiều năm từ -1,7 đến +2,1ºC. Các cực trị nhiệt độ lên xuống khá cao, tại Đồng Xoài nhiệt độ tối cao (Tx) lên đến 40,6ºC và nhiệt độ tối thấp (Tn) xuống đến 11,9ºC; tuy nhiên tần suất xuất hiện thấp 30 – 40 năm/1 lần.

Nhìn chung, khí hậu Bình Phước thể hiện tính chất nhiệt đới cận xích đạo gió mùa với nền nhiệt độ cao và phân phối khá đều trong năm. Lượng mưa khá lớn (trung bình 2.150mm) và phân bố theo mùa rõ rệt.

Với khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm ở trên đã làm cho đất đá bị phong hóa mạnh mẽ tạo nên lớp vỏ phong hóa dày, vụn bờ. Lượng mưa lớn tập trung theo mùa làm cho đất dễ bị xói mòn, xâm thực địa hình; nước mưa hòa tan với đá vôi tạo nên dạng địa hình tỉnh Bình Phước như hiện nay.

Nước

Tác động của nước mưa đã hình thành nên hệ thống sông, suối. Dòng chảy của các con sông, suối, nhất là vào mùa mưa đã gây nên các hiện tượng xói mòn, rửa trôi dẫn đến quá trình xâm thực và bồi tụ diễn ra, tác động mạnh mẽ và làm biến đổi diện mạo của địa hình.

Trên địa bàn tỉnh Bình Phước có các hệ thống sông, suối với 4 sông lớn: sông Bé, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, sông Măng và gần 100 con sông, suối khác. Ngoài ra còn một số hồ nước tự nhiên dưới dạng các bàu chứa nước. Chúng phân bố không đồng đều mà thường tập trung ở một số nơi, phụ thuộc vào đặc điểm địa hình, diện tích nhỏ từ vài trăm đến vài nghìn mét vuông, độ sâu thường không lớn lắm. Mùa mưa nước bàu đầy, mùa khô thường cạn kiệt. Hiện tại nước trong bàu chứa đã và đang được sử dụng để phục vụ sinh hoạt và tưới tiêu của dân cư sống gần hồ. Do đặc điểm địa hình, đặc điểm các sông, suối và do nhu cầu sử dụng nước nên Nhà nước đã xây dựng một số đập chắn tạo thành các hồ lớn trong vùng như hồ Dầu Tiếng (ở phía tây, giáp với tỉnh Tây Ninh) trên sông Sài Gòn; hồ Thác Mơ, hồ thủy điện Cần Đơn, hồ Sóc Miêng trên sông Bé; hồ Suối Giai, hồ Suối Lam, hồ Suối Cam, hồ Sóc Xiêm và một số hồ nhỏ ở đầu nguồn khác.

Nhìn chung hệ thống sông suối tỉnh Bình Phước tương đối nhiều với mật độ khoảng 0,7 – 0,8 km/km². Tuy nhiên, sông, suối trong vùng có lòng sông hẹp, dốc, lũ lớn trong mùa mưa và khô kiệt trong mùa khô. Vì vậy, khả năng khai thác nguồn nước này cung cấp cho sản xuất nông nghiệp cần lượng vốn đầu tư rất cao.

Lượng mưa lớn hình thành nhiều sông ngòi và sông ngòi nhiều nước. Mưa nhiều nhưng theo mùa làm cho chế độ dòng chảy cũng phân mùa. Sông có một mùa nước đầy vào thời kỳ mưa nhiều, một mùa nước cạn vào thời kỳ mưa ít. Mưa lớn tập trung theo mùa làm cho địa hình dễ bị xói mòn nhưng sông ngòi lại mang nhiều phù sa. Dòng chảy của các con sông trên địa bàn tỉnh có tác dụng đưa phù sa xuống vùng hạ lưu và lắng đọng thành các cồn, bãi, chỗ cao, chỗ thấp khác nhau. Trải qua thời gian dài, chúng được bồi đắp cao dần lên tạo ra địa hình ven sông.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN