Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Hà Tây

Khoáng sản

Về mặt địa chất, lãnh thổ tỉnh Hà Tây nằm ở vị trí chuyển tiếp của hai đới cấu trúc là đới uốn nếp Ninh Bình và đới Rif – vùng trũng Hà Nội. Chính vì thế mà nền địa chất của lãnh thổ cũng đa dạng và phức tạp.

Khoáng sản của Hà Tây nhìn chung nghèo, không có mỏ lớn. Các mỏ chủ yếu là mỏ phi kim loại (trừ vàng).

Khoáng sản nhiên liệu chỉ có than bùn là khá phong phú, phân bố thành một dải từ Mỹ Đức đến Xuân Mai. Các lớp than bùn có chiều đầy thay đổi từ 0,1 – 0,3m, trữ lượng khoảng 27 triệu m³, có thể khai thác dễ dàng. Than bùn đã được nghiên cứu chế biến thành phân vi sinh ở Thượng Lâm (Mỹ Đức) để bón cho một số toại cây trồng, có tác dụng cải tạo đất và cho năng suất cao hơn.

Khoáng sản kim loại có đồng, đã được tìm thấy ở Đá Chồng và Cư Yên (Ba Vì), sắt có một số mỏ nhỏ ở Xuân Sơn và hai điểm quặng ở Kim Chung và Trung Thượng, trữ lượng dự đoán khoảng 3000 tấn. Hà Tây có tiềm năng về khoáng sản vàng, đã phát hiện được 6 điểm vàng gốc và hàng chục điểm vàng sa khoáng, được phân bố thành một dải từ Bộc Lưa đến Ba Vì.

Các khoáng sản phi kim loại có mỏ pyrít ở Ba Trại (Ba Vì) và một số điểm quặng ở Suối Lan, Xóm Nghĩa. Mỏ Ba Trại có trữ lượng dự đoán khoảng 50 tấn. Đã phát hiện mỏ phôtphorit ở Hương Tích và một số điểm trong các hang động cacxtơ, trữ lượng khoảng 16.602 tấn.

Khoáng cao lanh-sét có 2 điểm ở Xuân Mai và Ba Vì, với các mỏ Yên Phong, Xuân Mai, Đầm Dãi (Ba Vì). Nhìn chung, các mỏ cao lanh ở Hà Tây có chất lượng lừ trung bình đến khá, có thể khai thác ngay để phục vụ công nghiệp sành sứ ở địa phương. Sét phân bố rộng rãi ở nhiều nơi trong tỉnh, có chất lượng tốt, có thể làm gạch ngói, phụ gia xi măng hoặc đồ gốm.

Trên địa bàn tỉnh Hà Tây còn phát hiện được hai mỏ atbet ở khu vực núi Ba Vì là mỏ Quýt và mỏ Khu Môn. Mỏ Quýt có trữ lượng khoảng 38.000 tấn, hiện đang được khai thác phục vụ cho nhà máy phibrôximăng. Mỏ Khu Môn có trữ lượng khoảng 21.504 tấn, chất lượng albet thuộc loại tốt, hiện đang được khai thác. Đặc biệt, Hà Tây là tỉnh có nhiều đá vôi được phân bố thành dải ở phía tây, quan trọng nhất là khu vực đá với Mỹ Đức. Khu vực này kéo theo hướng tây bắc – đông nam, dài 35 km, rộng 1 km, có dạng khối màu xám hơi đen, trữ lượng khoảng 100 triệu tấn. Ngoài đá vôi (ở Mỹ Đức) và đá để ốp lát (ở Chương Mỹ), tỉnh còn có rất nhiều cát, sỏi, đá ong dùng làm vật liệu xây dựng.

Địa hình

Diện tích tự nhiên của tỉnh Hà Tây là 2201,8 km2, trong đó hơn 2/3 là đồng bằng, đồi núi chỉ chiếm gần 1/3 diện tích toàn lãnh thổ. Địa hình Hà Tây có thể chia ra thành hai vùng khác nhau khá rõ rệt là vùng đông bằng nằm ở phía đông và vùng đồi núi nằm dọc theo địa giới phía tây của tỉnh.

Vùng đồng bằng của Hà Tây là một bộ phận hợp thành đồng bằng châu thổ sông Hồng, nằm ở phía hữu ngạn sông Hồng và dọc theo sông Đáy chảy trên địa bàn của tỉnh. Địa hình thấp dần từ tây bắc xuống đông nam, theo hướng dòng chảy tự nhiên của hai con sông này. Đồng bằng Hà Tây không bằng phẳng và có những đặc điểm phân dị khác nhau theo từng khu vực.

Vùng đồi núi của Hà Tây bao gồm phần lớn huyện Ba Vì, thị xã Sơn Tây và rìa phía tây của các huyện Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ và Mỹ Đức liên kết với nhau thành một dải chạy theo hướng tây bắc – đông nam, án ngữ toàn bộ ranh giới phía tây của tỉnh. Vùng đồi núi có thể chia thành các khu vực : núi Ba Vì, đồi cao Ba Vì, đồng bằng đồi và khu vực núi đá vôi Chương Mỹ – Mỹ Đức.

Địa hình cacxtơ ở Hà Tây chỉ chiếm một diện tích nhỏ chừng 60km2 thuộc các huyện Chương Mỹ và Mỹ Đức. Nhưng khu vực núi đá vôi này lại rất nổi tiếng về du lịch và cung cấp nguyên liệu cho sản xuất vật liệu xây dựng. Địa hình cacxtơ ở đây chia thành hai dải, một từ Miếu Môn đến Chợ Bến, hai là dải đá vôi Hương Sơn. Địa hình cacxtơ ở Hương Sơn kéo dài từ Đục Khê đến chùa Thiên Trù, động Hương Tích với các chỏm núi có dạng tháp, dạng nón điển hình cho cacxtơ nhiệt đới, trong đó có nhiều hang động kì thú. Nổi tiếng nhất là động Hương Tích, cửa hang rộng 33,6m. Trong hang rất phát triển các dạng tích tụ màng đá, mành đá, chuông đá rất đẹp như “Đụn gạo”, “Cây vàng”… Hang chùa Giải Oan rộng 9,2m, dài 7m, cao 7m, trong hang có “giếng Tiên” sâu Ngoài ra còn có hang Thiên Sơn, Hang Nước…

Các đỉnh núi đá vôi có độ cao sàn sàn, đỉnh cao nhất ở núi Thiên Trù  378m. Trong khu vực địa hình cacxtơ rất phát triển các cánh đồng và thung lũng cacxtơ. Các cánh đồng cacxtơ đáng kể là cánh đồng Vĩnh Lăng, Đục Khên, Hồi Xá. Các cánh đồng này thường lầy thụt, rất khó qua lại.

Khí hậu

Khí hậu Hà Tây mang đặc tính của kiểu khí hậu miền Bắc nước ta, với đặc điểm là khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh. Khí hậu chịu sự chi phối của chế độ bức xạ mặt trời nội chí tuyến và chịu tác động mạnh mẽ của hoàn lưu gió mùa. Mặt khác, Hà Tây nằm ở suờn đồng của phần nam dãy Hoàng Liên Sơn, nên khí hậu ở đây chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc. Khí hậu Hà Tây phân hóa ra hai mùa : mùa nóng trùng với mùa mưa; còn mùa lạnh, khổ hanh vào đầu mùa và mưa phùn ẩm ướt vào cuối mùa. Do địa hình tương đối đồng nhất, chỉ có núi Ba Vì nằm ở phía tây bắc và dãy núi đá nằm ở phía tây nên khí hậu Hà Tây ít có sự phân hóa theo không gian, chỉ có ở vùng núi, khí hậu mới phân hóa theo đai cao rõ rệt.

Bức xạ tổng cộng hằng năm dao động trong khoảng 121 – 123 kcal/cm2/năm. Vào mùa đông, gió thổi theo các hướng chính là bắc, đồng bắc và tây bắc với vận tốc tương đối lớn. Vào mùa hạ, gió lại thổi chủ yếu theo các hướng đông nam và nam. Đại bộ phận lãnh thổ của tỉnh có nền nhiệt cao (trừ núi Ba Vì), nhiệt độ trung hình năm hơn 23°C (dao động từ 23,1°c đến 23,3°C). Tổng nhiệt trong năm là 8400 – 8500ºC, đạt và vượt tiêu chuẩn nhiệt của vùng nhiệt đới. Phần lớn lãnh thổ của tỉnh cố lượng mưa dao động từ 1500 – 2000mm/năm, thuộc loại mưa vừa. Số ngày mưa trong năm dao động từ 90 -150 ngày. Do lượng mưa khá lớn nên độ ẩm tương đối trung bình năm khá cao, khoảng 83 – 85%.


Bên cạnh những đặc điểm chung, khí hậu Hà Tây cũng thường xuất hiện những hiện tượng thời tiết đặc biệt (gió khô nóng, sương muối, giông và mưa đá…) có ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp và đời sống con người.

Thủy văn

Hà Tây là tỉnh có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, với nhiều con sông lớn chảy qua như sông Đà ở phía tây bắc, sông Hồng ở phía đông. Sông Đáy và các con sông nội địa khác như sông Tích, sông Con, sông Nhuệ phân bố đều trên lãnh thổ với mật độ khá cao (60 km/km2).

Nước ngầm ở vùng đồng bằng tương đối dồi dào và nông. Ở vùng đồi núi, giếng đào sâu 10m trở lên là đã có nhiều nước, kể cả vào mùa khô.

Hà Tây có nhiều hồ, đâm tự nhiên và hệ thống sông, kênh để tiêu và tưới nước.

Nếu Hà Tây xây dựng được hệ thống cấp nước hoàn chỉnh thì có thể nói tài nguyên nước của tỉnh là dồi dào cho nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt.

Đất đai

Hà Tây có nhiều loại đất khác nhau, trong đó 4 loại đất chính là : đất phù sa trong đê, đất phù sa ngoài đê, đất bạc màu và đất đồi núi.

Đất phù sa trong đê có độ phì cao, được hình thành từ phù sa của hai hệ thống sông lớn của tỉnh là sông Hồng (gồm cả sông Đà, sông Đáy, sông Nhuệ) và sông Tích. Đây là loại đất chiếm diện tích lớn nhất (132.945 ha, bằng 62% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh). Vùng đất này có lịch sử canh tác lúa nước từ lâu đời, trình độ thâm canh cao. Đất có khả năng cho năng suất cao. Hầu hết diện tích có cơ cấu hai vụ lúa và một vụ đông với các giống cây trồng có năng suất cao, giá trị kinh tế và hàng hóa lớn.

Đất phù sa ngoài đê của sông Hồng, sông Đà, sông Đáy là loại đất được bồi thường xuyên, có độ phì cao, giá trị kinh tế lớn trong sản xuất nông nghiệp, nên được sử dụng triệt để và mang lại hiệu quả kinh tế. Loại đất này có 17.884 ha, chiếm khoảng 8,3% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Cây trồng chủ yếu ở đây là hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày (dâu tằm).

Đất bạc màu phát triển chủ yếu trên đất phù sa cổ, chủ yếu ở vùng bán sơn địa thuộc các huyện Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ. Tổng diện tích khoảng 18.158 ha.

Đất đồi núi tập trung ở khu vực đồi gò, có các cấp độ dốc khác nhau, thuộc dạng địa hình bào mòn, chia cắt. Tổng diện tích khoảng 29.650 ha, chiếm 12% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.

Hà Tây là tỉnh có nguồn tài nguyên đất tuy không lớn về diện tích, nhưng đa dạng về loại hình và có chất lượng khá cao.

Sinh vật

Tài nguyên rừng của Hà Tây tập trung ở vùng đồi gò và khu vực núi Ba Vì với gần 2000 ha rừng tự nhiên, 7800 ha rừng trồng. Rừng Hà Tây có nhiều loài chim, thú và nhiều cây gỗ quý, đặc biệt tập trung ở Vườn Quốc gia Ba Vì.

Nhìn chung thì Hà Tây có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên du lịch và tài nguyên khoáng sản (mà quan trọng là vật liệu xây dựng). Đây là hai nguồn lực lớn để xây dựng những ngành kinh tế mũi nhọn, cùng với công nghiệp chế biến nông sản sẽ tác động mạnh đến quá trình chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN