Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Hải Phòng

Địa hình

Phần lục địa và các đảo

Ngoài phân lục địa, đối với việc phát triển kinh tế – xã hội và  an ninh quốc phòng, hệ thống đảo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Hải Phòng có khoảng 397 hòn đảo lớn nhỏ với tổng diện tích 180 km2. Nếu tính cả diện tích vùng triều ở Phù Long – Cát Bà và Cát Hải thì diện tích đảo lên tới 271 km² (17,9% diện tích Thành phố). Đảo xa bờ nhất là Bạch Long Vĩ (cách bờ 136 km về phía đông nam). Hiện nay, 5 đảo đang có dân cư sinh sống thường xuyên. Có thể chia các đảo ở Hải Phòng thành 2 nhóm : nhóm đảo đá (đảo Hòn Dáu, quần đảo Long Châu, quần đảo Cát Bà, đảo Bạch Long Vĩ…) và nhóm đảo cát (các đảo Phù Long, Cát Hải…).

Dựa vào các chỉ tiêu về độ cao, độ dốc và mật độ chia cắt, có thể chia thành các kiểu hình thái sau đây :

– Đồi và núi thấp bị chia cắt mạnh:

Địa hình đồi bị chia cắt mạnh chiếm khoảng 5% diện tích tự nhiên của thành phố, tập trung chủ yếu ở phía bắc huyện Thủy Nguyên, quận Kiến An và thị xã Đồ Sơn. Các đồi có dạng dải, với độ cao phần lớn trong khoảng 40 – 100m, kéo dài theo hướng tây bắc – đông nam.

Địa hình núi thấp cũng bị chia cắt rất mạnh, tập trung ở quần đảo Cát Bà, Long Châu và phía bắc huyện Thủy Nguyên. Hầu hết các đỉnh có độ cao từ 100m đến 250m (cao nhất là 331 m ở phần tây đảo Cát Bà). Đặc điểm nổi bật nhất là đỉnh sắc nhọn, sườn dạng răng cưa dốc đứng, lởm chởm tai mèo và có nhiều hang động tiêu biểu cho địa hình cacxtơ nhiệt đới ở vùng Đông Bắc nước ta.

– Đồng bằng tương đối bằng phẳng :

Địa hình đồng bằng chiếm phần lớn diện tích thành phố với độ cao trung bình 0,8 – 1,2m. Tuy nhiên, ở mỗi nơi lại có những nét khác biệt. Ở Thủy Nguyên, phần phía tây đông bằng có độ cao 1,0 – 1,2m, trong khi đó ở phía đông bị hạ thấp chỉ còn 0,5 – 1,0m. Ở An Hải, độ cao bình quân cửa đồng bằng là 1,0 – 1,5m, còn ở Kiến Thụy là 1,0 – 1,2…

Đáy biển

Đáy biển của Hải Phòng vốn là vùng đồng bằng lục địa mới bị biển làm ngập. Căn cứ vào độ sâu, độ dốc và mức độ chia cắt, có thể chia thành hai kiểu hình thái dưới đây :

– Đồng bằng dạng sóng, phân bố trong phạm vi vịnh Lan Hạ và Hạ Long với độ sâu trung bình 5 – 10m (tối đa 39m), bị chia cắt mạnh do có nhiều đảo ngầm và rãnh ngầm.

– Đồng bằng tương đối bằng phẳng kéo thành một dải chạy song song với bờ và chiếm phần lớn diện tích đáy biển ở Hải Phòng.

Khí hậu

Khí hậu Hải Phòng mang tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa. Do chịu ảnh hưởng của hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á, nhất là khối khí cực đới nên khí hậu có 2 mùa. Mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều, kéo dài từ tháng V đến tháng X. Mùa đông lạnh, ít mưa, từ tháng XI đến tháng IV năm sau.

Khí hậu của Hải Phòng chịu sự chi phối mạnh mẽ của biển. Ảnh hưởng của biển làm điều hòa khí hậu, giảm bớt các giá trị cực đoan về nhiệt độ và độ ẩm, nhất là ở các khu vực nằm trực tiếp trên biển và sát đường bờ.

Các yếu tố khí hậu chủ yếu của Hải Phòng cũng có những nét đặc trưng.

Lượng bức xạ lí thuyết hằng năm đạt 220 – 230 kcal/cm2 và thực tế là 105 kcal/cm2. Lượng bức xạ cao nhất vào tháng V (12,25 kcal/cm2) và tháng VII (11,29 kcal/cm2), thấp nhất vào tháng II, (5,84 kcal/cm2).


Tổng lượng nhiệt trung bình năm của Thành phố đạt 8500°C, với nhiệt độ trung bình năm là 23 – 24°C. Về mùa đông, nhiệt độ trung bình là 16 – 17°c, thấp nhất vào tháng I (nhiệt độ tối thấp tuyệt đối ở trạm Phù Liễn là 4,5°C). Về mùa hạ, nhiệt độ trung bình trên 25°C (nhiệt độ tối cao tuyệt đối ở trạm Phù Liễn là 41,5°C).

Lượng mưa bình quân năm tại Hải Phòng đạt 1600 – 1800 mm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng V, kết thúc vào tháng X và chiếm 80 – 90% lượng mua cả năm. Mưa chả yếu tập trung vào các tháng VII, VIII, IX và cao nhất ]à tháng VIII. Các tháng còn lại ít mưa, chủ yếu là mưa phùn. Lượng mưa thấp nhất vào tháng XII và tháng I.

Độ ẩm tương đối ở Hải Phòng khá cao (trung bình 70 – 90%). Các tháng có độ ẩm thấp là X, XI, XII (thường dưới 80%) và các tháng có độ ẩm cao là II,III, IV (trên 85%).

Các hiện tượng thời tiết đặc biệt thường xuyên xảy ra ở thành phố.

Hải Phòng nằm trong khu vực có bão và áp thấp nhiệt đới trực tiếp đổ bộ vào. Hằng năm Thành phố chịu trung bình 31% tổng số cơn bão đổ bộ vào nước ta. Mỗi năm thường có 1 – 2 cơn bão đổ bộ trực tiếp và chịu ảnh hưởng gián tiếp của 3 – 4 cơn bão khác. Bão chủ yếu tập trung vào tháng VII (28%), tháng VIII (21%) và tháng IX (29%).

Hằng năm, vùng biển và ven biển Hải Phòng có 40 – 45 ngày có giông lớn. Giông thường xuất hiện vào mùa hạ, đôi khi kèm theo lốc và mưa đá, tập trung nhiều nhất là tháng IV, tháng VI vào lúc chiều tối hoặc sáng sớm.

Ngoài ra, ở Hải Phòng còn có gió mùa Đông Bắc với cường độ mạnh, mưa phùn, sương mù…

Thủy văn

Nước trên mặt

Nguồn nước trên mặt của Hải Phòng chủ yếu là mạng lưới sông ngòi. Các sông lớn ở đây đều là đoạn hạ lun của hệ thống sông Thái Bình, chảy chủ yếu theo hướng tủy bắc – đông nam, độ uốn khúc lớn, lòng và bãi sông rộng.

Các sông chính gồm có : Bạch Đằng, Cấm, Lạch Tray, Văn Úc, Mới, Thái Bình, Hàn, Hóa, Kinh Môn. Các sông nhánh đáng lưu ý là : Tam Bạc, Đa Độ, He, Họng, Ruột Lợn, Đá Bạch, Chung Mỹ… Trung bình cứ 20 km đường bờ biển thì có 1 cửa sông lớn.

 Các đặc trưng cơ bản của một số sông chính chảy qua Hải Phòng

Các đặc trưng cơ bản của một số sông chính chảy qua Hải Phòng

Nguồn cung cấp nước chủ yếu là nước từ thượng nguồn và nước từ biển truyền vào. Ngoài ra còn có nước mưa và nước dưới đất. Lượng dòng chảy phân bố không đều. Mùa lũ chiếm tới 75 – 85% lượng dòng chả cả năm (tập trung vào các tháng VII, VIII, IX), trong khi đó mùa cạn chỉ còn 15 – 25% (thấp nhất vào tháng III là 1%).

Lượng cát bùn lớn, tập trung vào các tháng mùa lũ. Điều đó làm cho các cảng nhanh chóng bị bồi lắng và nước biển có độ đục cao.

Nước dưới đất

Ở Hải Phòng, nguồn nước dưới đất tương đối phong phú. Chúng tập trung ở phức hệ chứa nước trong trầm tích Holoxen và phức hệ chứa nước kẽ nứt trong đá gốc trước Đệ tứ.

Nước khoáng

Nước khoáng trên địa bàn Hải Phòng đã được tìm thấy ở xa Bạch Đằng (Tiên Lãng) và ở đảo Cát Bà.

Nguồn nước khoáng Tiên Lãng được đánh giá là phong phú với lưu lượng 6,6 1/s, nhiệt độ 58°c và có chất lượng tốt. Ở đảo Cát Bà có nước khoáng Thuồng Luồng (xã Trân Châu), Xuân Đám với nhiệt độ 38°C. Đây là tiền đề để phát triển mạnh ngành du lịch.

Đất đai

Hải Phòng có nhiều loại đất và được chia thành 2 nhóm :


– Nhóm đất đồng bằng ven biển và thung lũng :

Nhóm đất này phân bố chủ yếu ở các khu vực ven sông, ven biển; bao gồm đất cát biển, đất mặn (với mức độ khác nhau), đất phù sa (được bồi hay không được bồi hàng năm), đất thung lũng v.v…

– Nhóm đất đồi núi:

Đây là nhóm đất tập trung ở vùng đồi núi của Hải Phòng, bao gồm các loại đất feralit hình thành trên các nham thạch khác nhau và đất đá vôi ở Cát Bà.

Nhìn chung, Hải Phòng có diện tích đất tương đối lớn, nhưng đất tốt không nhiều.

Đối với nhóm đất đồng bằng, có giá trị nhất là các loại đất không chịu ảnh hưởng của mặn, ít mặn trung tính, hoặc chua mặn vừa phải và các loại đất phù sa được bồi và không được bồi hằng năm. Ngoài việc trồng lúa, có thể trồng cây màu lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm và cây ăn quả.

Đối với nhóm đất đồi núi,chỉ có đất feral it phát triển trên đá vôi là tốt, nhưng điện tích nhỏ và phân bố rải rác. Các loại đất còn lại chắt lượng kém, trồng được cây lấy gỗ và cây ăn quả.

Sinh vật

Hải Phòng có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, chịu ảnh hưởng của biển nên thảm thực vật tự nhiên phát triển mạnh quanh năm. Căn cứ vào đặc điểm sinh thái và sự phân bố, có thể chia chúng thành các kiểu thực bì chủ yếu sau đây:

Thực bì trên núi đá vôi phân bố ở quần đảo Cát Bà, Long Châu và phía bắc huyện Thủy Nguyên. Đây là kiểu rừng rậm nhiệt đới xanh quanh năm đã bị tác động mạnh mẽ của con người. Vì thếthành phần cây ít, chủ yếu là loại ưa đá vôi, không cao, ít tầng tán.

Đáng lưu ý nhất là Vườn Quốc gia Cát Bà với kiểu rừng rậm nhiệt đới xanh quanh năm còn được bảo tồn trên diện tích khoảng 15.200 ha. Về đa dạng sinh học, ở đây có 123 họ, gồm 438 chi và 620 loài thực vật. Một số loài có giá trị về mặt khoa học và du lịch nh trai lý (quý), lát hoa (quý), gội nếp (quý), chò đãi (đặc hữu), kim giao (đặc hữu) v.v…

Thực bì trên đồi núi sa phiến thạch đã bị thay đổi nhiều do hoạt động của con người, phân bố rải rác ở Thủy Nguyên, Kiến An, Đồ Sơn; tuy có nhiều họ, giống, loài nhung ít có giá trị, trừ một số khu rừng thông mới được trồng lại.

Thực bì nước mặn phát triển trên các bai triều hay bùn mặn ở cửa sông, ven biển với diện tích khoảng 1,1 vạn ha. Ngoài giá trị là tài nguyên, rừng nước mặn còn có vai trò quan trọng đối với môi trường sống của vùng ven biển.

Ngoài ra, Hải Phòng còn có một số kiểu thực bì khác, nhưng ít có giá trị.

Động vật hoang dã trên cạn còn nhiều ở Cát Bà. Trong vùng này đa phát hiện đuợc 28 loài thú, 20 loài bò sát lưỡng cư, 37 loài chim… Đáng chú ý nhất là voọc đầu trắng, voọc quần đùi, khỉ vàng, đại bàng đất…

Hải Phòng có nguồn lợi biến tương đối phong phú. Hầu hết các loài cá trong vịnh Bắc Bộ đều có mặt ở vùng biển Hải Phòng. Ở khu vực Đồ Sơn có khoảng 158 loài, ở Cát Bà tập trung nhiều loài cá quý truyền thống (chim, thu, nhụ, đé), ở Long Châu có tới 26/57 họ cá kinh tế quan trọng của vịnh Bắc Bộ… Bên cạnh cá, Hải Phòng còn nhiều loài sinh vật biển khác có giá trị đã và đang được khai thác.

Khoáng sản

Khoáng sản chủ yếu ở Hải Phòng là đá vôi, tập trung nhiều ở khu vực Tràng Kênh (185 triệu tấn), puzơlan ở Pháp cổ (hơn 71 triệu tấn). Ngoài ra còn có sắt (Dưỡng Chính, Thủy Nguyên), cao lanh (Thủy Nguyên), quácxit (Đồ San)…, nhưng ít có giá trị kinh tế.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN