Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Hưng Yên

Địa hình

Hưng Yên nằm giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng, với địa hình tương đối đơn điệu. Nhìn chung địa hình của tỉnh nghiêng chênh chếch từ tây bắc xuống đông nam và không thật bằng phẳng. Độ dốc trung bình là 8 cm/1 km.

Về phía bắc, nổi lên loại địa hình cao, có hình vòng cung đi từ đông bắc sang tây bắc rồi men theo phía tây, dọc sông Hồng, bao gồm địa phận các huyện Văn Lâm, Văn Giang, Khoái Châu. Đây là vùng đất cao trong đê, có độ cao tuyệt đối từ 4 đến 6m,

Liền kề với vùng đất cao là vùng đất thấp hơn, độ cao trung bình chừng 3 mét, phổ biến ở Ân Thi, Yên Mỹ, Mỹ Hào, nam Kim Động, Tiên Lữ và kéo dài xuống phía nam (như Phù Cừ). Độ cao ở đây chỉ còn 2 mét, thậm chí có nơi dưới 2 mét.

Địa hình của Hung Yên ảnh hưởng rõ rệt đến việc canh tác. Trước kia thường xuyên xảy ra hạn hán và úng ngập. Vùng cao không giữ được nước, trong khi đó vùng thấp lại tiêu nước không kịp trong mùa mưa. Với từng vùng cũng có sự phân hóa ít nhiều về địa hình. Vùng cao lại có chỗ trũng như ở Đại Hưng (Khoái Châu) và vùng thấp cũng có chỗ cao như ở Nhật Quang (Phù Cừ). Hiện nay, nhân dân tỉnh Hưng Yên đã xảy dựng một màng lưới thủy lợi dày đặc để kịp thời giải quyết những khó khăn do địa hình gây ra, bảo đảm cho việc sản xuất quanh năm, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do hạn hán và úng lụt.

Khí hậu

Nằm ở vị trí trung tâm của Đồng bằng sông Hồng, khí hậu Hưng Yên có đầy đủ những nét chung của đồng bằng lớn này. Hưng Yên chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, nhiều nắng và có mùa đông lạnh.

Quy luật diễn biến số giờ nắng trong năm khá phức tạp. Tháng III nắng ít, tháng V và tháng VIII nắng nhiều nhất. Số giờ nắng bình quân 1730 giờ/năm.

Theo tài liệu khí tượng được theo dõi trong nhiều năm thì nhiệt độ trung bình hằng năm của Hưng Yên là 23,40C, nhiệt độ cao nhất là 40,4°C (tháng 6 – 1939) và tổng nhiệt độ trung bình năm là 8500 – 8600°C.

Giữa hai mùa trong năm, biên độ nhiệt thường là 13°c. Về mùa hạ, nhiều lúc nhiệt độ lên rất cao làm lúa mùa đang trổ bị nghẽn đòng, lúa ngậm sửa cũng bị hỏng.

Lượng mưa trung bình năm từ 1800 – 2200mm. Lượng mưa lớn nhất trong mấy chục năm gần đây là 2889,9 mm (1928). Lượng mưa phân bố không đều trong năm, tập trung tới hơn 70% vào mùa mưa (từ tháng V đến tháng X) dưới hình thức mưa giông (nhất là vào tháng VI, tháng VII). Mưa mùa này trút xuống đồng ruộng axít nitơric (HNO3) và amôniac (NH3) dưới hình thức đạm 2 lá (NH4NO3) rất tốt cho sản xuất nông nghiệp. Mùa khô lạnh (từ tháng XI đến tháng IV năm sau) có mưa phùn, do đó vụ đông cũng trở thành vụ chính, trồng được nhiều loại cây ngắn ngày.

Cùng với đất đai, điều kiện khí hậu và thời tiết như vậy thuận lợi cho việc trồng trọi và chăn nuôi nhiều loại cây con có nguồn gốc nhiệt đới và cận nhiệt. Tuy nhiên, khí hậu ở đây cũng có những mặt hạn chế, nhất là các tai biến thiên nhiên, gây trở ngại cho sản xuất và đời sống.

Thủy văn

Hung Yên có 3 mặt được bao bọc bởi sông, trong đó có sông Hồng – con sông lớn nhất miền Bắc, chảy qua. Ngoài sông tự nhiên, Hưng Yên còn có nhiều sông đào nhàm phục vụ yêu cầu của sản xuất nông nghiệp. Những con sông này thuộc hệ thống đại thủy nông Bắc Hưng Hải.

Sông Hồng

Sông Hồng chảy qua Hưng Yên theo hướng tây tây bắc – nam đông nam với chiều dài 67 km. Đây là đoạn sông lớn nhất của tỉnh Hưng Yên. Sông Hồng có chứa lượng phù sa khá lớn và chính vùng đất Hưng Yên cũng do dòng sông này bồi tụ nên. Về đến lãnh thổ Hưng Yên, sông Hồng chảy quanh co uốn khúc, tạo nên nhiều bãi bồi rất rộng (như ở Phá Cường, Hùng Cường thuộc huyện Kim Động).


Sông Hồng làm thành ranh giới tự nhiên giữa Hưng Yên với Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam. Nó bắt đầu chảy vào địa phận Hưng Yên ở thôn Phi Liệt (xã Liên Nghĩa, huyện Văn Giang), qua các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, thị xã Hưng Yên và một phần của Tiên Lữ, rồi ra khỏi địa phận Hưng Yên từ Ung Lôi (xã Tân Hưng, huyện Tiên Lữ).

Sông Hồng đã đem lại nguồn nước phù sa cho đồng ruộng Hưng Yên. Nó còn là con đường thủy quan trọng nối tỉnh Hưng Yên với Hà Nội, thị xã Sơn Tây, Việt Trì, Yên Bái, Thái Bình, và Nam Định.

Sông Luộc

Sông Luộc là con sông lớn thứ hai chảy qua Hưng Yên, một nhánh lớn của sông Hồng, nằm vắt ngang phía nam của tỉnh, gần như vuông góc với sông Hồng. Sông Luộc dài 70 km, rộng trung bình 200 mét, chảy qua địa phận Hưng Yên với đoạn dài 26 km. Theo sông Luộc, từ Hưng Yên có thể đến Ninh Giang (Hải Dương) và từ sông Luộc qua các hệ thống sông khác, có thể đến thành phố Hải Dương, thành phố Hải Phòng.

Sông Kẻ Sặt

Chảy ở phía đông của tỉnh, con sông này làm nên ranh giới tự nhiên giữa Hưng Yên và Hải Dương, đoạn sông này dài 20 km từ Thịnh Vạn (Mỹ Hào) đến Tông Hóa (Phù Cừ). Nó có giá trị về mặt dẫn nước (khi có hạn) và tiêu nước (khi có úng), vì nhận nước từ sông Thái Bình (cửa sông ở phía nam thành phố Hải Dương) và xuôi chiều tiêu thủy ra sông Luộc. Dựa vào điều kiện tự nhiên thuận lợi này, Hung Yên đã xây dụng hệ thống thủy lợi để điều tiết nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.

Trong phạm vi lãnh thổ tỉnh Hưng Yên còn có các sông con ngang dọc nối với nhau hình thành một màng lưới dẫn thủy khắp từ bắc đến nam, như các sông Hoan Ái, Cửu Yên, Nghĩa Trụ v.v…

Ngoài nguồn nước mặt dồi dào, Hưng Yên còn có nguồn nước ngầm phong phú, nhất là khu vực quốc lộ 5, từ Như Quỳnh đến Phố Nối, thuận tiện cho việc phát triển công nghiệp và đô thị.

Đất đai

Toàn tỉnh không có loại đất nào phát sinh và phát triển trên đá mẹ. Các loại đất tuy có khác nhau, nhưng đều do phù sa bồi tụ. Gần hai rìa sông là đất cát, cát pha tầng dày, rồi tiếp đến là cát pha tầng mỏng hoặc đất thịt nhẹ, đi sâu vào trong đồng là vùng đất sét có phủ một lớp đất thịt rất mỏng, về đại thể, có thể chia thành hai vùng :

Vùng ngoài đê

Đây là vùng đất phù sa trẻ nhất, hàng năm ít nhiều vẫn được phù sa bồi đắp. Vùng này nằm chủ yếu ngoài đê thuộc các huyện Văn Giang, Kim Động, Tiên Lữ. Ở vùng ngoài đê, có thể trồng màu xen canh, gối vụ liên tiếp, trừ mùa mưa lũ.

Vùng trong đê

– Đất phù sa không được bồi, màu nâu tươi, trung tính, ít chua, không giây hoặc giây yếu. Vùng này chiếm tỉ lệ 32% diện tích đất canh tác của tỉnh, tập trung nhiều nhất ở Yên Mỹ, Khoái Châu, Văn Giang, Kim Động, Văn Lâm, Tiên Lữ, Ân Thi, Mỹ Hào. Loại đất này có độ phì cao, giàu các chất đạm, lân, tương đối nhiều mùn, thích hợp với việc trồng lúa, các loại hoa màu và cây công nghiệp như mía, đay, dâu, lạc. Đây là vùng trồng lúa tốt nhất của tỉnh.

– Đất phù sa không được bồi, màu nâu tươi, giây trung bình hoặc mạnh, ít chua. Chiếm 25% đất canh tác của tỉnh, loại đất này nằm ở miền trũng của các huyện Kim Động, Tiên Lữ, Ân Thi, Yên Mỹ, Văn Giang, Khoái Châu, Phù Cừ, Mỹ Hào. Đất thiếu không khí, quá trình hóa sét mạnh, có ảnh hưởng xấu đến cây trồng ; phải cày sâu, bón phân nhiều khi trồng lúa.

– Vùng đất chua và bí, có tầng sét dày, bao gồm diện tích đất đất còn lại của các huyện Ân Thi, Phù Cừ, Yên Mỹ, Văn Lâm… Đối với loại đất này, phải chống chua, chống giây hóa và cải tạo thành phần cơ giới để đua vào sử dụng có hiệu quả trong nông nghiệp.

Sinh vật

Nằm giữa Đồng bằng sông Hồng, lại được khai thác từ lâu đời nên ở Hưng Yên hầu như không còn thảm thực vật tự nhiên. Về giới động vật củng tương tự như vậy. Các loài chim muông, cầm thú tự nhiên rất ít, ngoài những loài cáo, cò, cuốc, ngỗng trời v.v…

Khoáng sản

Nhìn chung, Hưng Yên có tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, song tài nguyên khoáng sản lại rất hạn chế. Ngay cả nguyên liệu thông thường như đá vôi cùng phải nhập ở tỉnh ngoài. Đây là một trong những khó khăn trong quá trình phát triển công nghiệp hóa của tỉnh.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN