Mạng lưới và đặc điểm khu vực các dòng sông, suối, hồ tỉnh Bình Phước

Sông Bé

Sông Bé bắt nguồn từ các dãy núi cao 600 – 800m trên cao nguyên Xnarô (Nam Tây Nguyên). Sông có chiều dài khoảng 350km và diện tích lưu vực của sông đến điểm hợp lưu với sông Đồng Nai là 7.650km²(đoạn sông chảy
ở địa phận Bình Phước dài khoảng 280km), là sông lớn nhất và chảy qua trung tâm của tỉnh Bình Phước. Đoạn chảy qua tỉnh Bình Phước có diện tích lưu vực 4.778km². Sông Bé là ranh giới tự nhiên giữa huyện Bù Gia Mập và Bù Đốp, Bù Gia Mập và Lộc Ninh, Hớn Quản và Bù Gia Mập, Chơn Thành và thị xã Đồng Xoài, Chơn Thành và Phú Giáo, Bình Dương, giữa huyện Tân Uyên,
Bình Dương và Vĩnh Cửu, Đồng Nai.

Sông Bé là một trong những phụ lưu quan trọng của hệ thống sông Đồng Nai, nằm ở phía bờ hữu ngạn. Sông Bé bắt nguồn từ vùng đồi núi của tỉnh Đắk Nông có độ cao từ 400m đến 800m. Phần thượng lưu, sông Bé chảy qua khu vực cư trú của đồng bào dân tộc Xtiêng và Mnông mang tên Đắk Lung. Đến ngã ba biên giới của ba huyện Bù Đốp, Bù Gia Mập và Lộc Ninh tỉnh Bình Phước, sông chảy theo hướng bắc – nam. Tới tỉnh Bình Dương, sông uốn khúc theo hướng tây – đông, rồi đổ vào sông Đồng Nai ở phía dưới chân đập Trị An. Hiện nay, trên dòng sông Bé đã quy hoạch 4 công trình (3 công trình thủy điện lớn và 1 công trình thủy lợi) theo 4 bậc thang: Thủy điện Thác Mơ, Cần Đơn, Srok Phu Miêng và công trình thủy lợi Phước Hòa. Ngoài giá trị về thủy điện, các công trình trên còn có tác dụng điều phối nguồn nước, giữ ẩm và phục vụ nước tưới trong sản xuất nông nghiệp vào mùa khô.

Sông Bé tập hợp nhiều sông nhỏ và suối. Phần thượng lưu, sông Bé do nhiều suối hợp nguồn tại Thác Mơ như Đắk Glun, Đắk Nhau, Đắk Rlấp, Đắk Oa, được suối Đắk Huýt chảy theo hướng bắc – nam, men theo biên giới Việt Nam – Campuchia đổ vào ở ngã ba Cần Đơn, cung cấp thêm cho sông một lượng nước lớn. Phía đông sông Bé có các nhánh suối như suối Rát, suối Cam, suối Giai, rạch Rạt, rạch Bé, sông Mã Đà. Phía tây sông Bé có các suối như suối Nghiên, suối Xa Cát, suối Thôn, suối Heo, suối Ram, suối Đam. Chính vì thế, về hạ nguồn lòng sông ngày càng mở rộng, lượng nước chảy càng nhiều hơn ở thượng nguồn.

Do đặc điểm địa hình nên lòng sông hẹp, thung lũng sâu, ở thượng lưu có dạng chữ “V” rất điển hình. Phần trung và hạ lưu lòng sông có dạng chữ “U”. Lòng sông rộng trung bình 25 – 30m, chỗ rộng nhất 50m, nơi hẹp nhất 10 – 12m. Sông Bé có độ dốc dòng sông 0,8 – 1% (độ dốc bình quân lưu vực 1,3%). Chiều sâu trung bình của sông từ 7 – 20m, thường gặp là từ 5 – 15m, hai vách bờ dựng đứng, nhiều thác ghềnh.

Sông Đồng Nai

Sông Đồng Nai bắt nguồn từ phía bắc cao nguyên Lâm Viên (Lang Biang), phía nam dãy Trường Sơn, độ cao các đỉnh núi đầu nguồn đạt trên 2.000m, đỉnh Lâm Viên: 2.167m, đỉnh Bi Doup: 2.287m, đỉnh Bơ Ra: 1.864m, v.v.. Các sườn núi cao tạo nguồn có độ dốc lớn từ 20 – 25%, đầu nguồn có tọa độ: 108º42’10’’E và 12º12’10’’N, độ cao trung bình khu vực đầu nguồn khoảng 1.700m (E: kinh tuyến Đông, N: vĩ tuyến Bắc).

Sông Đồng Nai là sông lớn thứ ba toàn quốc, thứ hai ở Nam Bộ và có vị trí quan trọng của nước ta. Theo sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức thì sông này còn có tên gọi là sông Phước Long vì gọi tên theo phủ Phước Long cũ. Sông Đồng Nai có lưu vực rộng lớn, gần như nằm trọn trong địa phận nước ta, chỉ có một bộ phận nhỏ nằm ở nước ngoài (Campuchia). Đồng Nai là con sông chính của hệ thống sông Đồng Nai, một số phụ lưu lớn của nó như: Đa Hoai, La Ngà (ở tả ngạn), sông Bé, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ (ở hữu ngạn).

Tổng diện tích lưu vực phần trong nước khoảng 37.330km², nằm trên địa phận các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Bình Dương, Bình Phước, Long An, Tây Ninh, Bình Thuận, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh.

song dong nai

Hệ thống sông Đồng Nai phát triển trên cao nguyên Di Linh, Lâm Viên, Bảo Lộc và một phần của đồng bằng Nam Bộ. Đây là một vùng kinh tế phát triển có nhiều thế mạnh với loại cây công nghiệp nhiệt đới như: cao su, trà, cà phê, thuốc lá, v.v.. Trong lưu vực nhiều nơi có thể xây dựng thành các trung tâm thủy điện như: Trị An, Thác Mơ, Đa Mi, Hàm Thuận, v.v.. Lưu
vực sông Đồng Nai nằm trong khu vực đón gió mùa tây nam, lượng mưa lớn, trung bình từ 2.000 – 2.800mm/năm. Mật độ lưới sông vào khoảng từ 0,5 – 1,0 km/km², vùng có mật độ cao là khu vực Bảo Lộc, vùng có mật độ thấp hơn là khu vực hạ lưu sông La Ngà, sông Bé, v.v.. Hệ số dòng chảy bình quân trong toàn lưu vực vào loại trung bình (µ= 0,5 ), hệ số phân tán Cv = 0,20 – 0,25.

Từ nguồn về tới cửa biển Xoài Rạp, sông Đồng Nai có chiều dài khoảng 610km, độ dốc trung bình trên toàn dòng sông là 2,8‰, với tổng diện tích lưu vực, bao gồm tất cả các chi lưu lên đến 40.683km², trong đó diện tích lưu vực tại Bình Phước là 620km². Diện tích lưu vực của hệ thống sông Đồng Nai tính đến trạm Trị An là 14.900km², tới Biên Hòa là 23.500km²,
tới Nhà Bè là 28.200km², và tới cửa Soài Rạp khoảng 42.600km². Lưu lượng nước của sông ở hạ lưu là 485m³/s. Lưu lượng nước bình quân của sông ở Bình Phước là 19,1m³/s. Mùa lũ của sông xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 9. Dòng chính của sông Đồng Nai chảy qua địa phận các tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước và Thành phố Hồ Chí Minh, chảy qua địa phận tỉnh Bình Phước thuộc huyện Bù Đăng (địa phận các xã Thọ Sơn, Đoàn Kết, Thống Nhất) theo hướng vòng cung ôm lấy xã Đồng Nai, có chiều dài khoảng 60km. Diện tích lưu vực sông rộng 37.400km². Sông chảy theo hướng chính là đông bắc – tây nam ở trung, thượng lưu và tây bắc – đông nam ở hạ lưu.

Đoạn trung lưu, từ tỉnh Lâm Đồng đến huyện Tân Uyên (tỉnh Bình Dương), lòng sông mở rộng, chảy quanh co, vượt thác Trị An để về hạ lưu (trung lưu dài 300km, hạ lưu dài khoảng 150km), toàn bộ hệ thống có hơn 250 sông, suối dài từ 10km trở lên.

Sông Đồng Nai có nguồn thủy năng lớn nhất phía Nam, khoảng 31 tỷ KW/giờ. Nhà máy thủy điện Trị An (ở tỉnh Đồng Nai) có công suất 360.000KW. Đối với tỉnh Bình Phước, sông Đồng Nai có giá trị cung cấp nước tưới và bồi đắp phù sa cho các cánh đồng, tạo điều kiện phát triển nông nghiệp. Ngoài ra, sông còn có giá trị giao thông và cung cấp thủy sản. Vào mùa lũ khoảng 350ha đất ở Bù Đăng bị ngập úng đe dọa. Nhà máy thủy điện Trị An được xây dựng đã góp phần điều tiết lượng nước trong mùa mưa, hạn chế ngập úng và cung cấp nước vào mùa khô cho hạ lưu. Sông Đồng Nai có giá trị rất lớn về giao thông vận tải, khoáng sản và cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt. Nguồn nước của hệ thống sông này khá phong phú và có tiềm năng cung cấp nước rất lớn cho thủy điện, cho khu công nghiệp, sinh hoạt đô thị, du lịch và sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, việc lấy nước từ dòng chính của sông này để phục vụ cho sản xuất và đời sống trong phạm vi tỉnh Bình Phước rất khó khăn và tốn kém.

Về lưu lượng dòng chảy: dòng chảy tính đến Trị An (khống chế diện tích lưu vực 14.025km² bằng 34,47% tổng diện tích lưu vực), tổng lưu lượng trung bình nhiều năm đạt 15,74 tỷ m³/năm; trong đó, lưu lượng trung bình các tháng mùa mưa chiếm gần 90% tổng lưu lượng cả năm.

Sông Đồng Nai đoạn thượng lưu có tên là Đa Dung (đọc là Đạ Đờng, nghĩa là sông lớn), sau khi hợp lưu với sông Đa Nhim, sông có tên là Đồng Nai Thượng. Từ đó cho tới chỗ hợp lưu với sông Sài Gòn, sông mang tên chính thức là Đồng Nai. Ở địa phận Thành phố Hồ Chí Minh, sông chia làm hai nhánh lớn là: sông Lòng Tàu chảy vào vũng Cần Giờ và sông Nhà Bè đổ ra biển qua cửa Xoài Rạp. Hệ thống sông Vàm Cỏ (Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây) có nguồn từ Campuchia đổ vào sông Nhà Bè cách cửa Xoài Rạp khoảng 10km. Cửa Xoài Rạp rộng có nơi tới 11km, song việc đi lại không mấy thuận tiện vì có nhiều sỏi, cát, bãi bồi, v.v..


Sông Đồng Nai có nhiều uốn khúc, quanh co, hệ số uốn khúc trung bình 1,3 đặc biệt trên cao nguyên Di Linh và Đà Lạt có nhiều uốn khúc lớn, nhưng nhìn chung dòng chảy của sông có hai hướng chính: hướng tây bắc – đông nam chủ yếu ở phần thượng lưu và hướng đông bắc – tây nam chủ yếu ở trung và hạ lưu. Điều đó khá phù hợp với kiến trúc địa tầng trong mỗi khu vực.

Do tác động của tạo sơn tân sinh, sông Đồng Nai là sông già trẻ lại, biểu hiện qua các cao nguyên xếp tầng như Lang Biang với độ cao trung bình 1.500m, Di Linh với độ cao trên 1.000m, các cao nguyên Mạ, Mnông với độ cao bình quân khoảng 750m và cuối cùng là đồng bằng Nam Bộ. Vì vậy, trắc diện dọc của sông cũng có dạng bậc thang khá điển hình. Tuy vậy vẫn có thể chia chiều dài của sông chính ra thành ba đoạn:

Đoạn thượng lưu: Đây là một đoạn ngắn từ nguồn về tới Đan Kia (Lâm Đồng) có diện tích hứng nước vào khoảng 3.300km², gồm hai sông Đạ Đờng và Đa Nhim, dòng sông ở đây hẹp, độ dốc lớn, lòng sông có nhiều đá lởm chởm, ít có tác dụng về giao thông, đi lại.

Mặt khác, vì là sông già được trẻ lại qua vận động tạo sơn tân sinh nên ở thượng lưu, khúc chảy trên sơn nguyên Đà Lạt khá êm đềm, nhiều đoạn bị chặn lại thành hồ như hồ Xuân Hương, Than Thở… Sức xâm thực của dòng sông chưa ảnh hưởng tới bề mặt của lưu vực. Khi ra tới rìa của sơn nguyên, độ cao thay đổi, xuất hiện các thác nước nổi tiếng như: Pren, Gu Ga, v.v..

Đoạn trung lưu: Đoạn này từ Đan Kia, phía dưới Liên Khương đến Trị An dài khoảng 300km. Dòng sông mở rộng uốn khúc quanh co, độ dốc bình quân dưới 1‰, việc giao thông đi lại thuận lợi hơn. Tuy nhiên, ở những chỗ chuyển tiếp của các bậc thềm, độ dốc tăng, hình thành những thác, ghềnh, tạo điều kiện tốt cho việc xây dựng các nhà máy thủy điện, như Nhà máy thủy điện Trị An xây dựng ở thác Trị An, huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai. Những phụ lưu quan trọng của hệ thống sông Đồng Nai đều gia nhập ở đoạn này như sông La Ngà ở tả ngạn, sông Bé ở hữu ngạn.

Đoạn hạ lưu: Từ Tân Uyên ra đến cửa biển Xoài Rạp dài xấp xỉ 143km. Đoạn này lòng sông khá rộng từ 1km đến 4,5km, có chỗ sâu tới 18m, nước sông chịu ảnh hưởng mạnh bởi chế độ bán nhật triều vùng cửa sông. Tại Hiếu Liêm, Tân Uyên biên độ triều trong ngày còn tới trên 1m.

Hệ thống sông Đồng Nai có khá nhiều phụ lưu, số phụ lưu có chiều dài lớn hơn 10km là 253 sông, suối. Có thể phân cấp các phụ lưu như sau:

– Phụ lưu cấp 1: có 61 sông

– Phụ lưu cấp 2: có 126 sông

– Phụ lưu cấp 3: có 52 sông

– Phụ lưu cấp 4: có 14 sông

– Sông chính: có 01 sông.

Trong số các phụ lưu kể trên, có một số phụ lưu quan trọng như: sông La Ngà, sông Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ.

Nhìn chung, về mặt hình thái lưu vực, sông Đồng Nai là một sông lớn, lưu vực gần như nằm trọn trên lãnh thổ nước ta, sông có nguồn nước phong phú và nhiều tiềm năng về thủy điện. Đồng Nai là dạng sông già trẻ lại dưới tác động của tân kiến tạo. Đây là một vùng được nâng lên, độ cao bình quân toàn lưu vực khá lớn khoảng 750m, đặc biệt sông được phát triển trên cao nguyên xếp tầng, sông nhiều nước, nhưng lũ ít đột ngột, vì lòng sông ít dốc, ở hạ lưu lòng sông mở rộng và sâu. Cửa sông có dạng vịnh nên giao thông đường thủy rất thuận tiện.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN