NAM ĐỊNH

Vị trí và Lãnh thổ Nam Định

Nam Định là một tỉnh đồng bằng ven biển, thuộc bộ phận phía nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, có tọa độ địa lí : từ 19°55’ đến 20° 16’ vĩ độ bắc và từ 106°00’ đến 106°33’ kinh độ Đông.

Phía bắc Nam Định giáp Hà Nam, phía đông bắc giáp Thái Bình, phía tây giáp Ninh Bình, phía đông và đông nam trông ra vịnh Bắc Bộ. Nam Định ở vào vị trí trung chuyển giữa các tỉnh phía nam Đồng bằng sông Hồng và các tỉnh Bắc Trung Bộ.

Nam Định có diện tích tự nhiên là 1669,36km², bằng khoảng 0,5% diện tích tự nhiên toàn quốc, đứng thứ 50 về diện tích trong 61 tỉnh, thành của cả nước. Dân số Nam Định là 1888,4 nghìn người (tính tới ngày 1-4-1999), bằng khoảng 2,47% dân số toàn quốc và đứng hàng thứ 8 về dân số trong 61 tỉnh, thành của cả nước.

Nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, Nam Định có hệ thống đường sắt, đường bộ, đường sông thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế. Đặc biệt, Nam Định chỉ cách thủ đô Hà Nội 90km (theo quốc lộ 1A, qua Phủ Lý) và cách Hải Phòng 80 km. Đây đã và sẽ là những thị trường tiêu thụ lớn, những trung tâm hỗ trợ đầu tư kĩ thuật, kinh nghiệm quản lí, chuyển giao công nghệ và thông tin cho Nam Định.

Sự xuất hiện thêm các cảng biển (ngoài các cảng Hải Phòng, Cái Lân sẽ xây dựng các cảng Ninh Bình, Ninh Cơ, Nghi Sơn…) và những thay đổi về hướng vận chuyển trong vùng (nhất là tuyến Đồng Văn – phà Yên Lệnh – thị xã Hưng Yên nối về quốc lộ 5 đi Hải Phòng, cảng Cái Lân…) sẽ ảnh hưởng tới phương hướng phát triển lâu dài của Nam Định

Vị trí địa lí như trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Nam Định phát triển sản xuất hàng hóa và mở rộng giao lưu kinh tế – xã hội với các địa phương trong cả nước và quốc tế. Song mặt khác, đây cũng là một thách thức lớn đối với Nam Định trong điều kiện cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài ; bởi sức ép gay gắt đo công nghệ lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém so với yêu cầu phát triển và so với các đô thị mới nằm liền kề trong địa bàn kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Điều đó đòi hỏi Nam Định phải có bước phát triển vượt bậc, mau chóng trưởng thành để khai thác các lợi thế và nhân tố mới nhằm hòa nhập vào sự phát triển chung của đất nước.

Sự phân chia hành chính Nam Định

Tỉnh Nam Định thành lập năm Minh Mạng thứ 12 (1831). Đầu đời Trần là lộ Thiên Trường. Năm Quang Thuận thứ 7 (1466) đặt làm thừa tuyên Thiên Trường. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đổi là thừa tuyên Sơn Nam. Năm Hồng Đức thứ 21 (1490) gọi là xứ Sơn Nam. Năm Cảnh Hưng thứ 2 (1746) chia làm trấn Sơn Nam Thượng và trấn Sơn Nam Hạ. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), trấn Sơn Nam Hạ đổi thành trấn Nam Định. Năm 1831, trấn Nam Định đổi thành tỉnh Nam Định.

Năm 1965, Nam Định và Hà Nam sáp nhập thành tỉnh Nam Hà.

Tháng 12/1975, Nam Hà và Ninh Bình sáp nhập thành tỉnh Hà Nam Ninh.

Năm 1992, tách Ninh Bình và trở lại là tỉnh Nam Hà.

Năm 1996, tỉnh Nam Định được tái lập.

Hiện nay, tỉnh Nam Định bao gồm : thành phố Nam Định, 9 huyện (Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng), với 9 thị trấn, 15 phường và 202 xã.

Địa hình Nam Định

Nam Định là tỉnh đồng bằng ven biển nên địa hình nhìn chung bằng phẳng, ít phức tạp. Đồi núi thấp (độ cao 70 – 150m) chỉ chiếm diện tích nhỏ hẹp, thuộc một số xã của các huyện Vụ Bản, Ý Yên – tiếp giáp với tỉnh Ninh Bình. Vì vậy, có thể chia địa hình của tỉnh thành 2 vùng chính : vùng đồng bằng thấp trũng (nội đồng) và vùng đồng bằng ven biển.

Vùng đồng bằng thấp trũng (nội đồng)

Vùng này gồm các huyện : Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường và thành phố Nam Định. Tổng diện tích của vùng khoảng 921 km², chiếm 55,2% diện tích toàn tỉnh. Độ nghiêng giảm từ tây bắc vẻ đông nam.


Đồng bằng có bề mặt tích tụ dày, màu mỡ, tạo nhiều khả năng phát triển nông nghiệp theo hướng thâm canh, phát triển công nghiệp và du lịch.

Vùng đồng bằng ven biển

Vùng này gồm các huyện : Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Giao Thủy với tổng diện tích khoảng 748 km², chiếm 44,8% diện tích toàn tỉnh.

Đồng bằng được bồi tụ bởi các trầm tích sông, biển và hiện nay vẫn tiếp tục được bồi phù sa (sau khi đắp đê thì vùng trong đê không còn được bồi nửa). Các huyện Hải Hậu, Nghĩa Hưng vẫn đang có xu hướng lấn dần ra biển. Nhìn chung, đất đai phì nhiêu, có khả năng phát triển tổng hợp kinh tế biển.

Bờ biển dài 72 km, bị chia cắt mạnh bởi cửa của sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ. Vùng ven biển có những khu rừng ngập mặn, thu hút nhiều loài chim đến trú đông, sinh sản, đồng thời là nơi tập trung nhiều cá và hải sản tập trung (Cồn Lu, Cồn Ngạn…). Nơi đây cũng có những bãi tắm tốt (Hải Thịnh – Hải Hậu, Giao Lâm – Giao Thủy).

Khoáng sản

Khoáng sản của Nam Định nghèo cả về chủng loại lẫn trữ lượng. Đáng kể nhất là các khoáng sản làm vật liệu xây dựng : đất sét làm gạch ngói nung, cát vàng, cát đen có ở nhiều nơi ; puzơlan dùng làm chất phụ gia cho sản xuất xi măng có ở quanh núi Gôi (Vụ Bản).

Ngoài ra, còn có sa khoáng inmemit và ziricom ở ven biển Hải Hậu, khí đốt đang được thăm dò ở Giao Thủy. Tài nguyên khoáng sản hạn chế là một khó khăn của Nam Định trong việc phát triển các ngành khai thác khoáng sản, công nghiệp chế biến…

Khí hậu

Cũng như các tỉnh khác trong vùng Đồng bằng sông Hồng, Nam Định có khí hậu nhiệt đới gió mùa với một mùa đông lạnh và một mùa hạ ẩm ướt, nhiều mưa.

Mùa hạ bắt đầu vào tháng V và kết thúc vào tháng X. Thời gian này thường có gió mùa đông nam gây mưa nhiều, thỉnh thoảng có bão và áp thấp nhiệt đới. Mùa đông bắt đầu vào tháng XI và kết thúc vào tháng IV năm sau. Mùa này thường có gió mùa Đông Bắc đem theo không khí lạnh, trời mưa phùn, làm tăng độ ẩm nên ít nơi bị hạn hán.

Hàng năm, lãnh thổ Nam Định nhận được một lượng bức xạ phong phú 110 – 120 kcal/cm²/năm, cán cân bức xạ cao trên 87 kcal/cm²/năm. Đó là cơ sở để Nam Định có một nền nhiệt độ cao.

Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,7°C. Tháng lạnh nhất là tháng giêng : 16,7°C. Tháng nóng nhất là tháng bảy : 29,3°C. Biên độ nhiệt trung bình trong năm khoảng 12,6°C.

Lượng mưa phân bố khá đều trên lãnh thổ (khỏang từ 1200mm đến 2000mm). Mưa tập trung vào mùa hạ (nhất là các tháng VII, VIII, IX), chiếm khoảng 70% tổng lượng mưa cả năm. Mưa trong mùa đông thường là mưa nhỏ, mưa phùn, tháng ít mưa nhất là tháng I.

Độ ẩm tương đối trang bình năm là 84%. Nhìn chung, khí hậu Nam Định có các chỉ số cao về độ ẩm, ánh sáng và ít có sự phân hóa theo lãnh thổ. Đặc điểm khí hậu như vậy thích hợp với việc phát triển trồng trọt, chăn nuôi và các hoạt động du lịch.

Tuy nhiên, Nam Định cùng chịu nhiều yếu tố thời tiết bất lợi, nhất là bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ từ Biển Đông vào, khoảng từ tháng VII đến tháng X đem theo gió mạnh và mưa lớn, gây thiệt hại cho vùng ven biển. Ngoài ra còn có gió Tây khô nóng, sương mù, sương muối. Gần đây (12-6-2000) vòi rồng ở các xã Bình Hòa, Giao Hà (Giao Thủy) đa làm 3 người chết, hàng chục người bị thương, làm thiệt hại khoảng 200 ngôi nhà.

Thủy văn

Nam Định có hệ thống sông ngòi khá dày đặc. Nhìn chung các sông đều chảy theo hướng tây bắc – đông nam và đổ ra biển. Các sông chảy qua địa phận Nam Định phần lớn đều thuộc phần hạ lưu nên lòng sông thường rộng và không sâu lắm, có quá trình bồi đáp phù sa ở cửa sổng (tại cửa Ba Lạt, đồng bằng đang lấn dần ra biển với tốc độ 100 – 120m/năm). Dòng chảy quanh co uốn khúc, tạo hình móng ngựa tương đối rõ nét, tốc độ chảy của sông chậm, độ dốc lòng sông nhỏ. Các sông này hằng năm đổ ra biển một lượng nước và phù sa rất lớn. Chịu ảnh hưởng của đặc điểm địa hình và khí hậu nên chế độ nước sông chia làm hai mùa rõ rệt : mùa lũ và mùa cạn. Vào mùa lo, lưu lượng nước các sông khá lớn, lại gặp vào lúc mưa to kéo dài, nếu không có hệ thống đê điều ngăn nước thì đồng bằng sẽ bị ngập lụt, mực nước sông Hồng cao hơn mặt đồng bằng Nam Định khoảng 10 – 12m). Vào mùa cạn, lượng nước sông giảm nhiều, các sông chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều, khiến cho vùng cửa sông bị nhiễm mặn.


Các sông lớn là sông Nam Định (còn gọi là sông Đào), sông Ninh Cơ, sông Hồng. Sông Đào uốn lượn, nối sông Hồng với sông Đáy, dài hơn 50km, rộng khoảng 500 – 600m, có giá trị lớn trong nông nghiệp, cung cấp nước tưới và giao thông trong tỉnh.

Sông Ninh Cơ là một nhánh của sông Hồng, bắt nguồn từ phía bắc của huyện Giao Thủy, chảy qua Lạc Quần xuống phía nam của tỉnh và đổ ra Biển Đông tại cửa Lạch Giang. Sông dài 35 – 40 km và rộng khoảng 400 – 500m.

Hạ lưu sông Hồng làm thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh : Thái Bình và Nam Định, rồi đổ ra biển tại cửa Ba Lạt. Chiều rộng trung bình của đoạn sông này là khoảng 500 – 600m.

Ngoài các sông lớn kể trên, Nam Định còn có mạng lưới các sông nhỏ dày đặc, với vai trò hết sức quan trọng trong việc tưới tiêu và cấp nước cho người dân địa phương.

Nam Định có nhiều ao, hồ, đầm lớn vừa là nơi nuôi cá nước ngọt vừa cung cấp nước tưới cho cây trồng. Hồ Vị Xuyên nằm ở trung tâm thành phố Nam Định có cảnh quan đẹp, có giá trị trong du lịch, vui chơi giải trí.

Nhìn chung, nguồn nước mặt của Nam Định có trữ lượng lớn, có ý nghĩa trong sản xuất và sinh hoạt, đồng thời cũng tạo ra mạng lưới giao thông đường thủy thuận lợi.

Hai tầng chứa nước ngầm ở Nam Định có giá trị trong khai thác và sử dụng là tầng chứa nước lỗ hổng Holoxen hệ tầng Thái Bình và tầng chứa nước Pleistoxen hệ tầng Hà Nội. Tuy nhiên, nước ngầm mới chỉ được khai thác sử dụng một phần rất nhỏ.

Nhờ sự giúp đỡ của UNICEF, từ năm 1983 trở lại đây, chương trình nước sạch nông thôn đa được triển khai. Số lượng các giếng khoan đường kính nhỏ trên địa bàn các huyện ngày một nhiều, đáp ứng phần nào nhu cầu nước sạch cho nhân dân, giảm bớt khó khăn cho vùng khan hiếm nước.

Việc khai thác nước ngầm để dùng trong sản xuất công nghiệp cũng đa được nhiều xí nghiệp đóng trên địa bàn thành phố Nam Định tiến hành.

Đất đai

Diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 166.936 ha, trong đó đất được sử dụng vào mục đích nông nghiệp là 105.437,1 ha, chiếm khoảng 63% diện tích đất tự nhiên (trong đó đất trồng lúa màu là 88.430 ha, chiếm gần 84% đất nông nghiệp). Bình quân đất nông nghiệp theo đầu người thấp : khoảng 550m²/người, trong khi bình quân trong cả nước là 1100m²/người. Ngoài ra Nam Định có khoảng 3799 ha đất lâm nghiệp, 9079,7 ha đất thổ cư, còn lại là đất hoang hóa chưa được sử dụng.

Đất chủ yếu được hình thành từ phù sa sông. Đây là các loại đất có độ phì khá, đặc biệt là ở những nơi hằng năm còn được phù sa bồi đắp. Thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, khả năng giữ nước và giữ chất dinh dưỡng tốt, rất thích hợp cho việc trồng cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày.

Ở các khu vực thấp, trũng thuộc các huyện Vụ Bản, Ý Yên, đất bị giây hóa mạnh và có độ chua cao hơn ở các nơi khác.

Đất mặn phân bố ở vùng ven biển thuộc các huyện Hải Hậu, Giao Thủy. Từ cửa sông Ba Lạt đến cửa sông Ninh Cơ, đất bị nhiễm mặn do ảnh hưởng của triều. Tuy nhiên, đất mặn chiếm một diện tích không lớn.

Diện tích đất tự nhiên không ngừng được mở rộng. Riêng vùng ven biển của hai huyện Giao Thủy và Nghĩa Hưng đang được bồi tụ nhanh, tốc độ tiến ra biển khoảng 100 – 120m/năm và cứ sau 5 năm lại mở rộng thêm diện tích khoảng 1500 – 2000 ha.

Sinh vật

Nam Định có thảm thực vật tự nhiên khá phong phú, đặc biệt là thảm thực vật ven biển với hệ sinh thái rừng ngập mặn có các loài cây như : sú, bần, tra, trang … Đáng chú ý nhất là khu bảo tồn tự nhiên Xuân Thủy với diện tích khoảng 12.000 ha, có nhiều bãi triều rộng, màu mỡ với những cánh rừng ngập mặn xanh tốt. Đây cũng là nơi cư trú, sinh sản của nhiều loài chim (khoảng hơn 100 loài, ước tính có 25.000 con, trong đó có 6 loài quý hiếm được ghi vào sách Đỏ quốc tế). Động vật mang tính độc đáo của vùng cửa sông ven biển. Sinh vật phù du khá phong phú là nguồn thức ăn cho các loài hải sản. Về cá, nhìn chung phong phú về giống loài, nhưng lại nghèo về mật độ và trữ lượng, nhất là các loài cá có giá trị kinh tế cao. Về tôm, đã phát hiện 45 loài, trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế : tôm he, tôm sắt, tôm bộp, tôm rảo…). Ngoài ra còn có nhiều loại hải sản có giá trị như : bào ngư, sò huyết…



BÀI VIẾT LIÊN QUAN