Chuyện con trâu ở làng quê Việt Nam

Trước hết, ta hãy nói về con trâu hiến sinh trong lễ đâm trâu của các dân tộc Tây Nguyên cũng như ở Indonesia, Malaysia. Con trâu trong lễ hiến sinh biểu thị tình nghĩa mẹ con muôn đời. Con trâu chết cho mẹ, cho cộng đồng. Trâu biểu hiện cuộc sống bản thể, tự nguyện phục hồi năng lực sinh sản của mẹ. Đất đã mòn mỏi do con người bòn rút máu thịt của mình để sinh sống. Trâu hiến mình để cho yên lòng mẹ Đất, góp vào sự sinh tồn và vĩnh cửu. Trong lễ đâm trâu, người ta làm cho trâu chết dần chứ không cho trâu chết hẳn ngay để làm cho trâu trở nên “anh hùng”. Vì trâu hiến sinh nên khi chết, trâu thành vật tổ (totem). Con trâu bị phân thành nhiều mảnh, bón cho đất Mẹ. Hiến sinh là đức của con người muôn thuở.

Đường đi của trâu là luống cày, là đường đi của ngũ cốc của văn minh. Con sông Kim Ngưu từ Hà Bắc lượn về từ núi Trâu Sơn ở giếng Việt, ôm lấy Thủ đô Hà Nội, làm nên đế đô phồn vinh, ở làng Phật Tích (Hà Bắc) còn có nhiều di tích trâu đá…

Trâu là loài nhai lại, ăn giả làm thật, ở Việt Nam có rất nhiều giống trâu. Con trâu đại diện cho lòng tốt, sự bình yên, sức mạnh, sự bình tĩnh, là tượng trưng cho sức lực và sự hy sinh. Trâu là một trong 12 con giáp, là một trong lục súc gồm: ngựa, dê, trâu, gà, chó, lợn…gần gũi nhất với con người. Trâu thuộc âm. Người ta gọi con trâu rất thân mật: ”Trâu ơi ta bảo trâu này”.  Năm Sửu là năm con trâu. Giờ sửu là từ 1 giờ đến 3 giờ sáng, là lúc trâu bắt đầu công việc hàng ngày, kéo cày hoặc bừa. Người đẻ năm Sửu thường có tài năng và có cường độ lao động tốt. Đó là những đức tính rất cần thiết đối với bất kỳ ai. Thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, sinh năm Kỷ Sửu (1889). Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu, sinh năm Đinh Sửu (1937).le hoi dam trau

Đời trâu làm thật, ăn giả, cổ cày vai bừa. Nó làm việc cật lực, cần cù, nhẫn nại, kéo cày trả nợ (nợ đời):

“Bao giờ cây lúa thành bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”. Nó chỉ ăn cỏ và rơm. Xưa kia, người chịu ơn nói với người tạo ơn cho mình rằng: “Xin làm trâu ngựa đền nghìn công ơn…” Trong Truyện Kiều có câu: “Làm thân trâu ngựa đền nghỉ trúc mai”. Đó là lời thề của người chịu ơn kiếp này nguyện đến kiếp sau xin trả nợ.

Với xã hội nông nghiệp, con trâu là đầu cơ nghiệp. Nó góp phần quyết định việc đẩy mạnh sức sản xuất và năng suất lao động. Trâu rất khoẻ: Khoẻ như trâu mộng; yếu trâu còn hơn khoẻ bò. Con gái ở tuổi thanh xuân cũng là lúc xuân tình thịnh vượng nhất và có sức mạnh dữ dội, hăng hái nhất được gọi là: “Gái 17 bẻ gãy sừng trâu”. Câu nói này có hai ý nghĩa, chỉ người con gái có dư sức làm việc và cũng có dư sức trong “chiến trận yêu đương…”.

Con trâu có tai lá mít, đít lồng bàn là con trâu hay. Mắt trâu hơi lồi, lờ đờ, nhìn chằm chằm, rộng lượng, cam chịu duyên phận, hiền từ… Khi người ta yêu nhau nhìn nhau bằng đôi mắt trâu đờ đẫn, thẫn thà là như vậy đó…


Con trâu si tình, rất kín đáo nên chẳng mấy ai để ý. Vì họ không nhìn thấy con trâu liếc. Hàng năm ở  Đồ Sơn vào hội chọi trâu truyền thống rất náo nhiệt. Nhưng ta chỉ thấy có hai con trâu chọi nhau mà thôi. Cụ Thìn, 91 tuổi, ở chợ Đồ Sơn cho biết: ”Khi xưa, ở  mỗi bên bãi chọi trâu đều có buộc một con trâu cái “ngon lành” bằng một dải lụa đỏ để động viên tình lang của mình quyết đấu. Như vậy là những cuộc chọi trâu xa xưa cũng phải có chuyện “mái sùy” mới trở nên quyết liệt. Trời sinh ra thế mà…

Con trâu có ích cho công việc nhà nông đã đành. Người ta cũng còn có thể sử dụng tất cả những gì ở con trâu: thịt, xương, da, lòng… Ngay lòng trâu, móng trâu, sừng… đều có thể được axit clo hy-drich (HC1) thuỷ phân rồi cùng với một số hoá chất khác để chế thành xì dầu, ma-gi, bột ngọt hoặc mì chính. Sừng trâu còn dùng làm cốc uống rượu theo kiểu dân dã ở miền núi. Nó cũng là cái tù và truyền lời kêu gọi và bản thân nó cũng là một nhạc cụ hoành tráng. Da trâu bịt mặt trống cho các loại trống như: trống chèo, trống tuồng, trống chầu, trống trong hát ả đào, trống cơm, trống bồng trong đám ma… đã làm náo nức tâm hồn bao người.da trau lam trong

Huyền thoại kể về chuyện tình của Ngưu Lang và Chức Nữ. Sự thực thì hậu duệ của họ là chàng chăn trâu và cô gái trồng dâu, dệt vải. Đó là hai mặt của âm và dương, là chàng và nàng. Gần đây nhất là chàng công nhân lái máy cày và cô gái làm trong xưởng dệt.

Trong vở Quan âm Thị Kính, sau khi Thị Mầu bị thất vọng, không “ăn thịt” được Thị Kính, đã yêu anh Nô theo kiểu; ‘”Trâu ta ăn cỏ đồng ta” và dạy cho anh Nô cách thắp hương khi thấy oản chùa…Ở nước ta xưa, nhà nào có 9 đụn 10 trâu là nhà giầu. Đường sông là đường nhỏ, gồ ghề, cao lên phía giữa. Trâu chậm uống nước đục” là nói người đến sau bao giờ cũng chỉ thu hoạch được những gì còn lại. Đầu trâu mặt ngựa là chỉ những kẻ đáo để, hung dữ mà ai cũng muốn tránh mặt. Những người cùng hoàn cảnh, cùng khả năng, nhất là có tính tình giống nhau, kết bạn với nhau gọi là trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa. Những câu nói này dùng trong trường hợp không mấy tốt đẹp. Trâu trắng đi đâu mất mùa đấy là chỉ sự vô duyên vậy. Người ta bạc đãi và ghét con trâu trắng chỉ vì nó không giống đồng loại của nó có màu đen. Lại có câu Có ăn có chọi, mới gọi là trâu’” khuyên mọi người hãy mạnh dạn đấu tranh trong cuộc sống.

Ngày 23 tháng chạp hàng năm, ở chợ Bưởi có phiên chợ trâu náo nhiệt. Người ta thường bảo; “Thật thà cũng thể lái trâu.  Câu nói này còn có vấn đề phải bàn cãi.

Thách cưới 3 bò 9 trâu là thách cưới nặng mà bên trai khó lòng đáp ứng nổi…

Con trâu! Con trâu trên cánh đồng cờ bay mỏi cánh của Việt Nam. Con trâu trong huyền thoại: tTrâu vàng Hồ Tăỷ\ trong giấc mơ của cái tuổi: nAi bảo chăn trâu là khố\ Con trâu còn có trong những câu hát ru: ”Trâu ta, ta buộc bờ ao. Dặn dò to nhố…làm sao ta căng bằng lòng,、…Con trâu là hình ảnh thân thương và gần gũi trong cuộc sống của làng quê Việt Nam.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN