Làng tranh Đông Hồ – Bắc Ninh

“Hỡi cô thắt lưng bao xanh

Có về làng Mái với anh thì về

Làng Mái có lịch có lề

Có ao tắm mát có nghề làm tranh”

(Ca dao)

Làng Mái là làng Đông Hồ – quê hương của dòng tranh Đông Hồ nổi tiếng, năm cạnh sông Đuống thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Vì được khai sinh từ một mảnh đất có nền tảng văn hoá và truyền thống thủ công nên Đông Hồ đã sớm nổi lên như một điểm sáng văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần đáng tự hào của miền Kinh Bắc. Trong khi các dòng tranh như tranh Hàng Trống, tranh làng Sình, tranh Kim Hoàng bị hiện đại hoá, thất truyền đến nay hầu như không cồn nữa, thì tranh Đông Hồ vẫn được duy trì và đứng vững, thu hút sự quan tâm của du khách, đặc biệt là khách quốc tế. Ngày nay, có thể xem Đông Hồ là một trung tâm sản xuất tranh dân gian nổi tiếng nhất Việt Nam.

Nghệ nhân tranh Đông Hồ
Nghệ nhân tranh Đông Hồ

Xưa kia Đông Hồ chỉ là cái ấp, cách đây hơn 50 năm, làng Mái chỉ có 60 hộ với gần 500 khẩu, cả làng không có lấy một ngôi nhà ngói, nhà cửa vườn tược không được thông thoáng như bây giờ, không cổng không tường, đường thôn ngõ xóm lầy lội, người ở vùng này có câu “trăm cái tội không bằng cái lội Đông Hồ”. Làng Hồ xưa vốn nằm trong bãi ven mép nước sông, hằng năm đều bị nạn lở đất đe doạ, thế nên mới vượt đê di cư đến địa điểm ngày nay. Làng tuy nhỏ nhưng có tới 17 dòng họ có gốc từ Thanh Hoá và Hải Dương. Cho đến nay người ta vẫn chưa xác định rõ được nghề thủ công truyền thông này có từ bao giờ, chỉ biết rằng nếu căn cứ vào dáng hai con vật tựa như con chuột trong “Đông Hồ bi tự ký”, dựng năm 1690 ở nền chùa cũ làng Hồ thì nghề làm tranh hẳn phải có từ trước đó. Còn vị tổ nghề có phải là gốc làng Hồ hay không? Chúng ta đang cần chờ một câu trả lời xác thực.

Tranh Đông hồ
Tranh Đông hồ

Ngày nay, tranh Đông Hồ vẫn tồn tại nhưng không còn hưng thịnh như xưa, trước đây hầu hết các gia đình trong làng đều làm tranh nhưng bây giờ chỉ còn ba hộ: ông Nguyễn Đăng Chế, ông Nguyễn Hữu Sam và ông Trần Nhật Tấn, nhưng dẫu sao ta vẫn mừng và tự hào rằng nghề làm tranh Đông Hồ vẫn được tồn tại và không những thế sản phẩm của nó còn có mặt ở nhiều nơi trên thế giới như Nhật Bản, Xingapo, Pháp, Đức, Hoa Kỳ.

Kỹ thuật làm tranh khắc gỗ dân gian của làng Đông Hồ

Sáng tác mẫu tranh

Đây là khâu quan trọng nhất từ chọn nội dung đến hình thức. Vì vậy nghệ nhân sáng tác tranh phải có một trình độ hiểu biết nhất định, có óc sáng tạo và tình cảm sâu đậm.

Để mẫu vẽ hoàn hảo thì phải tốn hàng tháng, bản thảo vẽ mẫu được dán lên vách của nhà người vẽ để mọi người có dịp bàn bạc, sửa đổi, bổ sung. Vì tranh dân gian là loại tranh phản ánh cuộc sống sinh hoạt của nhân dân, những suy nghĩ, tình cảm chung của cộng đồng, do đó cần có sự đóng góp của dân chúng.

Sáng tác mẫu tranh
Sáng tác mẫu tranh

 

Các mẫu tranh sau khi đã được bổ sung thường được vẽ bằng mực nho lên giấy mỏng để khi dán sấp lên mặt gỗ, nét vẽ sẽ thấm vào mặt sau tờ giấy, nhờ đó, người thợ khắc mới khắc được lên mặt gỗ

Khắc ván

Để khắc ván, trước tiên phải chọn ván in, khác với tranh hiện đại dùng vật liệu chế tạo từ các chết hoá học thì loại tranh dân gian này lại làm từ những chất liệu rẻ tiền từ thiên nhiên, từ cỏ cây gần gũi với đời thường, vì thế nó tạo nên nét độc đáo riêng cho dòng tranh này.

Về ván in cần hai loại: ván in nét và ván in màu.

Ván in nét là ván in làm bằng gỗ thị, gỗ mơ vì nó bền nhưng dẻo mịn và không nẻ khi tiếp xúc với nước và đứng vững không đổ.


Ván in màu: Để dễ hút màu thì ván phải được làm từ loại gỗ nhẹ, thớ mềm, xốp như gỗ dồi, gỗ vàng tâm. Loại gỗ này không vênh: khi gặp nước, phải xẻ trước từ 1 – 2 năm, để khô mới dùng. Nếu những loại tranh cỡ to hơn khổ thông thường thì ván in được chia nhỏ thành 3 – 4 ván để ghép lại.

Khắc ván
Khắc ván

In tranh

Đây là giai đoạn phức tạp nhất gồm nhiều khâu nhỏ: bồi điệp, nhuộm giấy, in và tô màu. Thường được làm khi thời tiết khô ráo.

Chọn giấy: Giấy in tranh là giấy dó lấy từ cây dó trong rừng, có nhiều làng sản xuất riêng loại giấy này như làng Bưởi, làng Yên Thái (Hà Nội), làng Đông Cao (Bắc Ninh). Đặc điểm của loại giây này là dai, bền, độ thẩm thấu cao, giữ được màu lâu.

Bồi điệp: Nghệ nhân quét lên mặt giấy dó một lớp điệp, được tán mịn từ vỏ con điệp, sau đó pha hồ nấu kỹ, tạo cho giấy cứng, xốp hơn và vì quét bằng chổi làm từ lá thông nên đã tạo thành những đường vân ngang dọc có lẫn điệp lung linh.

In tranh
In tranh

Cũng từ đây trong dân gian có loại tranh trắng (in trên nền giấy điệp có săc trăng) để phân biệt với loại tranh trên giấy đỏ của tranh Kim Hoàng.

Ngoài giấy trắng điệp chủ đạo trên, các nghệ nhân Đông Hồ còn quét lên giấy điệp một lớp màu đỏ son, đỏ vàng cho loại nền của dòng tranh này phong phú hơn. Để tạo ra những gam màu đa dạng, họ đã chế từ thảo mộc có sẵn trong thiên nhiên như: màu xanh chàm được tạo từ lá chàm ngâm vôi cho rữa, đánh sủi bọt, lọc bọt gạn vôi và cô đặc. Màu vàng lấy từ hoa hoè, Màu đỏ vang có gôc gác từ một loại gỗ trong rừng và cô đặc. Màu đen từ than rơm, than lá tre…

Khi in tranh, không giống như in các loại tranh dân gian khác, các nghệ nhân dùng các bản khắc gỗ để in các màu từ nhạt tới đậm, in định vị màu đen là bưóc sau cùng, Màu sắc tranh sáng hay tôi, có thanh nhã, tinh tế hay không phụ thuộc rất nhiều vào tay nghề của người in tranh.

Nội dung và giá trị nghệ thuật của tranh Đông Hồ

Đến với dòng tranh Đông Hồ, ta như trở về với cuộc sống thôn dã của người nông dân Việt Nam, nội dung tranh rất phong phú và đa dạng, tất cả đều bắt nguồn từ phong tục tập quán, từ những sự kiện lịch sử, từ nếp sống sinh hoạt thường ngày của người dân mà nên. Có thể kể đến một số thể loại sau:

Những bức tranh có đề tài lấy từ các truyện cổ tích, ca ngợi tình nghĩa thuỷ chung, thảo hiền, trừng trị gian ác, vô luân đạo lý…được thể hiện qua tranh Sơn Tinh – Thuỷ Tinh, Thạch Sanh, Kiều…

Tranh về đề tài lịch sử, ca ngợi những vị anh hùng dân tộc, những trận đánh quyết liệt như tranh Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo..

Một loại tranh có số lượng lớn nhất và được ưa chuộng nhất hiện nay là những bức tranh phản ánh nguyện vọng, ước mơ của nhân dân lao động về cuộc sống ấm no hạnh phúc như tranh Hứng DừaĐánh Ghen, Đánh Vật, Chơi Đu, Thả Diều

Tranh thờ là loại tranh tưởng niệmbiết ơn tổ tiên như tranh câu đối, đại tự…

Do tiếp xúc với nhiều dòng tranh dân gian khác đặc biệt là tranh Hàng Trống, tranh Đông Hồ lại xuất hiện thêm đề tài mới là tranh truyện tranh Tứ bình…

Loại tranh khắc gỗ Đông Hồ không chỉ hấp dẫn ở nội dung tư tưởng mà còn thoả mãn yêu cầu thẩm mỹ của người xem. Chính vì cái đẹp ấy đã làm cho nó sống mãi. Mặc dầu nhu cầu thẩm mỹ xã hội đã thay đổi, nội dung tranh tuy đã không hoàn toàn đúng trong bối cảnh của xã hội hiện đại nhưng vẫn có sức hấp dẫn.

Một nét đẹp nữa đã góp phần làm tranh Đông Hồ trở nên độc đáo trong mắt du khách là những người sáng tác. Đây là dòng tranh do tập thể sáng tạo, họ là những người dân lao động bình thường, kế thừa và chắt lọc những tinh hoa của đời trước, tiếp thu thêm cái mới, tạo ra những bức tranh sáng tạo, tình cảm thể hiện lối tạo hình và màu sắc độc đáo, tạo nên một vẻ đẹp rất mộc mạc, chân chất nhưng lại hài hoà mang một phong cách phóng khoáng, khoẻ mạnh, nhưng lại tươi mát hồn hậu và dí dỏm.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN