Lễ hội thờ cúng cá voi của ngư dân miền biển Nam Bộ

Lễ hội thờ cúng cá voi của ngư dân miền biến Nam Bộ thường diễn ra vào ngày trăng tròn trong các tháng khoảng giữa và gần cuối năm âm lịch, tức mùa thường bị biển động

Có thể nói một trong những đặc điểm nổi bật của điều kiện địa lý – tự nhiên Nam Bộ đó là “hiếm núi non, nhiều sông rạch và gần biển cả”. Vốn gần như có rất ít núi, phần lớn đất là đồng bằng hoặc đầm lầy, sông rạch lại chằng chịt khắp nơi, vả chăng người Việt trong quá trình mở đường “khai phá” về phương Nam trước đây, chủ yếu vẫn là phải đi bằng thuỷ lộ (đường biển) là chính, do đó biển Đông bao la dường như vây quanh và trở nên gần gũi, gắn bó với một bộ phận lớn đất nước, con người Nam Bộ cả về đời sống vật chất lẫn sinh hoạt tinh thần, tâm linh. Điều đó được thể hiện ra không phải chỉ qua việc đa sô các ngôi đình ở Nam Bộ đều có thờ các vị thần phù hộ người đi biển mà còn là những sinh hoạt xã hội tập trung qua tín ngưỡng thờ cá voi và lễ hội nghinh Ông khá phổ biến trong cộng đồng cư dân người Việt sinh sống quanh các làng ven biển ở Nam Bộ.

thờ cúng cá voi

Thực ra thờ cá voi là một tín ngưỡng và tập tục lâu đời của người Chăm cư trú ven biển miền Trung nước ta. Thần thoại Chăm vẫn kể rằng cá voi vốn là hóa thân của một vị thần (Cha Aih – Va) và cuối cùng người Chăm đã đồng hóa vị thần đó với Thần Sóng Biển (Pô Riyak) là một thế lực linh thiêng có thể phù trợ cho người đi biển. Quá trình giao tiếp văn hóa Việt – Chăm trên bước đường khai phá của người Việt từ miền Bắc, qua miền Trung để vào miền Nam trong một môi trường địa – văn hóa phù hợp làm cho tín ngưỡng và tập tục ấy cuối cùng trở thành ”Việt hóa” hoàn toàn trên vùng đất mới Nam Bộ. Một biểu hiện “Việt hóa” như vậy là có lúc người ta giải thích rằng việc thờ cá voi ở Nam Bộ còn có liên quan đến chuyện Nguyễn Ánh (sau này là vua Gia Long) từng được cá voi cứu nạn (ở Vàm Láng – Gò Công chẳng hạn)! Hoặc, người ta vẫn thường kể về công ơn của cá voi do đặc điểm sinh học hoặc do một yếu tố “thiêng liêng” nào đó mà nó vẫn thường cứu người đánh cá bị nạn trên biển! Và, người ta đã “thiêng hóa” thần tích ấy của cá voi to lớn như lả hạnh nguyện và công đức “cứu khổ cứu nạn” của Phật bà Quán Thế Âm Bồ Tát hay, gần gũi hơn, đó là biểu tượng của những gì gọi là anh linh tú khí của Thần Biển vốn vừa hung hãn, khủng khiếp vừa bao dung, nhân từ trong việc hằng xuyên cung cấp những nguồn sống quý báu cho con người nơi đây… Do vậy cá voi lớn được người ta trang trọng gọi là “Ông” và cá voi nhỏ được gọi là “Ông Cậu”. Khi gặp “Ông” hoặc “Ông Cậu” “lụy” (tức cá voi chết vì một lý do nào đó và xác tấp vào bờ) thì người ta phải làm lễ an táng, chịu tang và sau ba năm phải làm lễ “Thính Ngọc Cốt” (cải táng) một cách nghiêm túc. Hơn nữa, nếu không xây nơi thờ tự riêng cho “Ông” gọi là Lăng hoặc Dinh Vạn (của Ông) thì người ta cũng đưa “Ông” vào đình, đền, miếu để thờ phụng. Bài vị thờ cá voi thường được ghi các mỹ hiệu như “Ông Thuỷ Tướng” hoặc “Nam Hải Tướng Quán” và triều đình nhà Nguyễn trước đây cúng đã sắc phong cho “Ông” với tước hiệu là “Nam Hái Cự Tộc Ngọc Lân Tôn Thần” hoặc “Đại Càng Quốc Gia Nam Hải Tướng Quân“. Ở những nơi thờ tự ấy, bên cạnh “Ông” người ta còn có thể phối tự thờ “” Thuý Long Thần Nữ hoặc Bà Ngã Hành và cá Tiền Hiền, Hậu Hiền của cộng đồng địa phương tại chỗ. Như vậy, rõ ràng thờ cúng cá voi từ một nét sinh hoạt tín ngưỡng Chăm ở Trung Bộ qua giao tiếp Văn hóa dân tộc đã trở thành một tập tục ăn sâu vào nếp sống tâm linh của người dân Việt ở Nam Bộ mà chính triều đình phong kiến trước đây cũng phải thừa nhận.

Lễ hội thờ cúng cá voi của ngư dân miền biến Nam Bộ thường diễn ra vào ngày trăng tròn trong các tháng khoảng giữa và gần cuối năm âm lịch, tức mùa thường bị biển động, “Thần Biển” có thể nổi giận bất thường đối với con người và đây cũng là mùa cá voi hay bị nạn trôi dạt vào bờ. Trong thời gian ấy, mỗi nơi lại có lịch “Giỗ Ông” (tức lễ hội thờ cúng cá voi tại địa phương) gần như mỗi khác nhau. Ví dụ như tại Vàm Láng (Gò Công Đông – Tiền Giang) lễ hội tổ chức vào ngày 15 tháng 6 âm lịch (sau này là ngày 10 tháng 3 âm lịch), Bình Đại (Bến Tre) ngày 16 tháng 6 âm lịch, Thắng Tam (Vũng Tàu) và Cần Thạnh (Cần Giờ – Thành phố Hồ Chí Minh) ngày 16 tháng 8 âm lịch v.v… Đồng thời, hình thức tổ chức lễ hội mỗi nơi như thế cũng đều có nét đặc thù của từng địa phương và nhìn chung thường xoay quanh ba nội dung nghi thức chính là: Lễ Nghinh Ông (Rước cá voi tượng trưng trên biển), Lễ Chánh Tế và lễ cung Tiền Hiền, Hậu Hiền. Ngoài ra còn có các phần sinh hoạt hội hè gồm văn nghệ (chủ yếu là Hát Bội), trò chơi dân gian, liên hoan ăn uống…Sau đây chúng ta sẽ khảo sát một lễ hội tồn tại tương đối lâu và kéo dài cho đến ngày hôm nay với quy mô tổ chức khá lớn và nghi thức mang nét tiêu biểu cho các lễ hội thờ cúng cá voi của ngư dân miền biển ở Nam Bộ nói chung đó là lễ hội Nghinh Ông ở xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, Thành phốHồ Chí Minh.

Lễ hội Nghinh Ông ở xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những lễ hội thờ cúng cá voi được xác định đã có lâu đời, ít nhất là từ đầu thế kỷ trước. Hằng năm, ngư dân ở đây tổ chức lễ hội này chủ yếu vào ngày 16 tháng 8 âm lịch và xem nó như ngày Tết thứ hai sau Tết Nguyên Đán, thậm chí không khí còn sôi động, rộn ràng hơn bởi nhiều hình thức, nội dung tổ chức khá quy mô và được đông đảo người từ nhiều địa phương khác kéo đến tham gia. Vì vậy đã có người gọi đây là ngày “Tết biển” của ngư dân! Cũng cần lưu ý rằng, tại vùng biển Cần Giờ còn có những lễ hội thờ cá voi khác tại xã đảo Thạch An (ngày 16 tháng 10 âm lịch) và tại ba ấp của xã Long Hòa: Đồng Hoà (ngày 11, 12 tháng 5 âm lịch), Hoà Hiệp (ngày 9, 10 tháng 10 âm lịch), Long Thạnh (ngày 11, 12 tháng 12 âm lịch) với nội dung nghi thức tương tự như Lễ hội Nghinh Ông ở xã Cần Thạnh nhưng quy mô nhỏ hơn.


Tại xã Cần Thạnh, trước ngày lễ hội người ta đã tạm ngưng mọi việc đi biển để lo trang trí ghe thuyền cũng như chuẩn bị các điều kiện khác cho lễ hội. Từ chiều ngày 15 tháng 8 đến sáng ngày 16 tháng 8 âm lịch, quanh khu vực Lăng Ông (nơi thờ cá voi) người ta đã tổ chức nhiều hoạt động văn nghệ, trò chơi dân gian sôi nổi…Khoảng 9 giờ ngày 16 tháng 8, nghi thức chính của lễ hội bắt đầu bằng Lễ Nghinh (rước) Ông trên biển với hàng trăm chiếc ghe (thuyền) được trang hoàng cờ hoa rực rỡ và có bày hương án cùng các lễ vật như heo quay (với đủ cả “bộ đồ lòng”), xôi, gạo, muối, hoa, trái, nhang, đèn và vàng bạc… Trong đó, chiếc Ghe của Chủ lễ phải là ghe lớn nhất và được trang hoàng đặc biệt nhất: rồng được vẽ hai bên thành ghe, hoa (vạn thọ) trang trí bốn góc mui ghe, cờ nước và nhiều cờ Ngũ Hành ở trước và sau ghe, những hoành phi đề chữ to “Cung nghinh Ông Thuỷ Tướng“, “Hiển Hách Anh Linh” và “Quốc Thái Dân An“. Trên ghe, bên cạnh bàn hương án có linh vị thờ Ông là các lễ vật, các đồ tự khí…và túc trực chung quanh là Ban Tế Lễ, Ban Nhạc Lễ cùng các Lễ Sinh…Tất cả đều mặc lễ phục trang trọng.

Sau vài giờ di chuyển ra khơi xa, trong khi cả đoàn ghe di chuyển chậm lại để chờ đợi thì chiếc Ghe của Chủ lễ đi thêm một đoạn rồi dừng lại giữa biển để làm Lễ Cúng Ông. Sau ba hồi trống nổi lên, vị chủ lễ bắt đầu thực hiện việc tế tự theo nghi thức cổ truyền Nam Bộ như dâng hương, dâng rượu, dâng trà, đọc văn tế (trước kia sau khi làm lễ xong người ta còn ném các lễ vật xuống biển để “cúng” những người chết biển)…Sau đó, kết thúc Lễ Cúng Ông trên biển trước đây phải là những tràng pháo ròn rã, là hiệu lệnh để tất cả ghe thuyền cùng tiến ra đón Ông và “cùng Ông” diễu hành quay trở về bờ. Không khí lúc này thật rộn ràng bởi tiếng pháo, tiếng chiêng, tiếng trống vang động cả một vùng biển trời dày đặc những thuyền ghe lớn nhỏ xen cài vào nhau. Hình ảnh ấy gợi lên bóng dáng một cuộc bơi chải, đua thuyền vừa mang không khí hội hè vừa nhằm thực hiện nghi thức của một lễ hội nông nghiệp (như ở miền Bắc Việt Nam chẳng hạn) nhưng ở đây không phải trên sông mà là trên biển và không phải cầu mùa, cầu mưa mà là cầu ngư! Hơn nữa, nét khác biệt ờ đây là người ta lại còn tổ chức liên hoan ăn uống vui vẻ ngay cả trong khi đang “bơi chải” ồn ào như thế!…

Từ bến tàu trở về Lăng Ông lại tiếp tục diễn ra Lễ Rước Ông rất long trọng với múa lân (sau này có cả múa rồng) cùng tiếng nhạc, tiếng pháo tưng bừng và đông nghịt người kéo theo đoàn rước giữa những bàn hương án toả nhang khói mù mịt hai bên đường đi. Sau khi làm lễ an vị Ông tại Lăng, lễ tế Tiền Hiền, Hậu Hiền diễn ra và tiếp theo, ngay tối hôm đó (tức ngày 16 tháng 8, khoảng 12 giờ khuya),  lễ Chánh tế được cử hành với các nghi thức và lễ vật tương tự như trong lề Kỳ Yên của cúng đình Nam Bộ. Sau đó là phần Hát Bội. Chen kẽ giữa các nội dung trên là phần tế lễ tự do cho khách thập phương, và đương nhiên không thể thiếu những buổi liên hoan ăn uống, sinh hoạt văn nghệ vui vẻ tại Lăng hoặc tại các gia đình ngư dân.

Nhìn chung, Lễ hội Nghinh Ông ở Cần Thạnh – Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh) cũng như lễ hội thờ cúng cá voi ở các nơi thuộc miền biển Nam Bộ vốn có ảnh hưởng từ phong tục Chăm nhưng đã được ’”Việt hóa” bằng tín ngưỡng và tập tục thờ cũng Thành Hoàng cùng sự chi phối của một số tôn giáo, tín ngưỡng dân gian khác để cuối cùng trở thành một dạng lễ hội cầu ngư mang đầy đủ nét đặc trưng địa phương. Đó là một trong những lễ hội khá tiêu biểu cho các quá trình giao tiếp Văn hóa dân tộc trong sinh hoạt Lễ hội dân gian của người Việt tại Nam Bộ.


Năm 1989, một đoàn ngoại giao Ấn Độ sau khi thăm Miếu Bà,đã tò ý ngạc nhiên về việc gặp một loại tượng thần Shivalinga ở tại đây với danh xưng là Bà Chúa Xứ như vậy (?).



BÀI VIẾT LIÊN QUAN