Những làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng

Có điều rất đặc biệt là bất cứ vùng đất nào trên lãnh thổ Việt Nam từ miền ngược đến miền xuôi, từ đồng bằng ra hải đảo, các xứ Đông, Nam, Đoài, Bắc, từ xứ Lạng xa xôi địa đầu Tổ Quốc, cho đến tận Cà Mau, nơi tận cùng của đất nước, đâu đâu cũng có những nghề thủ công nổi tiếng và ở đâu người nông dân đồng thời là thợ thủ công cũng tự hào mình là vùng đất của trăm nghề. Điều này đã đi vào ca dao và trở thành câu cửa miệng trong dân gian từ ngàn đời nay.

Hỡi cô thắt bao lưng xanh

Có về Chuôn Ngọ với anh thì về.

Chuôn Ngọ có gốc cây đề

Có sông tắm mát có nghề khảm trai

Rồi thì:

Đại Bái khéo đánh nên nồi,

Thổ Hà khéo đúc hòn vôi thêm nồng.

Nào ai đi chợ Thanh Lâm

Mua anh một tấm ảo thâm hạt dền…

Chợ núi cỏ gốc cây đề,

Có nghề canh cửi có nghề làm hương.

Hay là:

Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng,

Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông.

Và còn rất nhiều:

Quạt Man Xá khi nồng hây hẩy

Rập lửa nồng đem lại gió thanh

Quay tơ ra mắc ra mành,

Mắc là sợi dọc mành là sợi ngang.

Mốt son anh dệt đầu hàng,

Mốt cục đem bán cho nàng kẻ Đơ…

Muốn ăn cơm trắng cá mè,

Muốn đội nón tốt thì vẻ làng Chuông…

Chỉ riêng về nón, nghề này đã rất đa dạng và phong phú. Từ đời Trần ở làng Ma Lôi (thuộc tỉnh Hải Dương cũ) có làm loại nón bằng trúc thanh bì gọi là nón Ma Lôi. Nghề làm nón rất phát triển. Thời ấy gia nhân của Trần Khánh Dư buôn loại nón này, thu lãi được hàng ngàn tấm vải ( Trần Quốc Vượng, Hà Vàn Tấn – lịch sử chế độ phong kiến tập I, NXB giáo dục, Hà Nội- ỉ 960, tr 337). Trong “Vũ trung tùy bút”, Phạm Đình Hổ mô tả, vào cuối thế kỷ 18 ở Việt Nam đã có rất nhiều loại nón. Ở Sơn Tây có nón mền giải (hay còn gọi là nón Tam Giang) dành riêng cho các ông già, nón lá dùng cho con nhà giàu hay học trò và những người ở đất Kinh kỳ thanh lịch. Nhà quan dùng nón dâu, nón lá sen, còn nón nhỏ khuôn dành cho trẻ con, non sọ nhỏ dùng cho người thôn quê, nón chéo vanh (hay non dấu) dành cho lính tráng.

Ngang lưng thì thắt bao vàng,

Đầu đội nón dấu vai mang súng dài.


Nón khua để dành cho vợ con lính và kẻ hầu người hạ. Nón mặt lờ dành cho khách tu hành, nón cạp dành cho người có tang… Ngoài làng Chuông, nơi có nghề làm nón nổi tiếng, nón Thanh Hóa lá mỏng, nhẹ nhàng thanh thoát, nón chằm Huế vừa cao sang vừa thơ mộng, nón Gò Găng Bình Định vừa mềm mại vừa bền (thảng 3/1936 nón Huếvà nón Gò Găng được giải thưởng tại hội chợ tổ chức ở Huế). Rồi nón Lai Châu của đồng bào Thái, nón cọ, nón bạc hay nón sơn của đồng bào Tày Cao Bằng…

Với đức tính cần cù, chịu thương chịu khó với đôi tay khéo léo tài hoa và óc thẩm mỹ tinh tế, người thợ thủ công ở các làng nghề đã làm ra những sản phẩm thật đáng khâm phục, thật xứng đáng là niềm tự hào của muôn đời. Đó là pho tượng Phật khổng lồ Chùa Quỳnh Lâm. Tượng này tuy không còn song qua văn bia chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều Quảng Ninh) dựng niên hiệu Cảnh Hưng thứ 46 (1785) tượng cao tới 6 trượng (khoảng 20rn), đặt trên tòa điện cao 7 trượng (23,5m). Tượng truyền rằng xưa kia đứng ở phía Nam huyện Đông Triều, cách chùa khoảng 10 dặm vẫn nhìn thấy nóc tòa điện. Có lẽ pho tượng này lớn nhất ở Việt Nam và đứng vào loại tượng có tầm cỡ lớn trên thế giới. Rồi như trống đồng Ngọc Lũ, có thể cho là sớm nhất, đẹp nhất là gốc của mọi loại trống khác. Ngày nay với trình độ khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, rất nhiều kỹ sư luyện kim nổi tiếng vẫn chưa tìm ra được bí quyết của kỹ thuật xưa. Kết hợp với thợ đúc phường Ngũ Xá, trống đồng được đúc thử tới 4 lần, vẫn chỉ đạt 80% so với hiện vật gốc.

Qua đây thấy rõ máy móc dù tinh vi đến mấy cũng không thay thế được nét dùi gò uyển chuyển của người thợ gò đồng Đại Bái; cũng không thay thế được mũi dao tài hoa, tinh tế của những người thợ khảm Chuyên Mỹ:

Khảm trai trên gỗ trên đồng

Mà như khảm cả tấm lòng vào tranh.

Khoa học kỹ thuật có khả năng giúp người thợ trong những công đoạn thô sơ nặng nhọc như cưa pha gỗ, tạo lò nấu đồng, gốm với nhiệt độ cao… nhưng sao có thể thay thế được tài năng, được tâm huyết của những người thợ gửi gắm trên nét vẽ, những nhát đục, những dáng vẻ cả đời người có khi chỉ tạo được một lần. Công việc của người thợ thủ công không khác sự sáng tạo của người nghệ sĩ, hay nhà thơ. Cho nên người máy dù siêu hạng đên đâu chẳc chắn không thể thay thế nổi. Nhiều nghệ nhân trong đó có cụ Lê Văn Cam ở làng gốm Bát Tràng đều cảm nhận một điều: trong cả cuộc đời làm thợ không bao giờ làm được hai sản phẩm giống nhau, mặc dù “người trần mắt thịt” nhìn vào thì thấy giống hệt nhau như in không thể phân biệt nổi. Phải chăng đây là điều bí ấn tạo nên bản sắc riêng của từng nghệ nhân, từng làng nghề.

Đúng là các làng nghề mỗi nơi một vẻ, đều nổi tiếng khó mà phân biệt hơn thua. Nói về sành thì phải kể đến hai làng Thổ Hà và Phù Lãng. Với nước men da lươn khiêm tốn nhưng đậm đà bền chắc, đồ sành ở đây đã trở thành vật dụng thân thiết và gắn liền với dân chúng khắp nơi. Thậm chí người ta kén cho bằng được chậu sành da lươn Phù Lãng để ngâm gạo đồ xôi trong những dịp lễ hội thiêng liêng tế thần. Làng Trung Thứ (Phù Mỹ) và làng Thượng Giang (huyện Bình Khê, Bình Định) nổi tiếng với những đôn chậu bằng sành xốp tráng men màu. Còn thợ gốm Lái Thiêu, Biên Hòa thì làm được loại sành trắng rất độc đáo, mọi nơi đều ưa chuộng. Thị xã Thanh Hóa có loại đất để chế sành đỏ, làm những chiếc chum lớn hoặc những chiếc kiệu “bốn vú” thể tích chứa rất lớn có đến vài trăm lít. Làng Lưu Mỹ huyện Anh Sơn (Nghệ An) lại nổi tiếng với nồi đất Kẻ Trần. Một nhà nghiên cứu người Pháp đã so sánh nồi đất Kẻ Trần đối với người Việt Nam không khác gì đồ sứ Limoge đối với người Pháp vậy. Ở miền núi nghề gốm phải kể đến hai bản Chiềng Chung và Trường Chanh Châu Mai Sơn, Sơn La). Vào dịp giáp tết dân bản làm đĩa bát và vò rượu cần để bán cho cả vùng Tây Bắc. Đồng bào Thượng Tây Nguyên và đồng bào Vân Kiều (Bình Trị Thiên) sản xuất được loại gốm màu đen đặc biệt không nơi nào làm được. Nói đến gốm không thể không kể đến Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội). Bàn tay tài hoa của người thợ gốm Bát Tràng khiến người ta kinh ngạc. Họ điều khiển hòn đất biến hóa như trong huyền thoại. Bên những chiếc bát đàn đơn sơ, nhã nhặn, sản vật truyền thống của Bát Tràng, người thợ còn làm được những chiếc lọ độc bình, những chân đèn dầu lạc có hình con rồng đắp nổi với men lam độc đáo, hay những chiếc bát men rạn màu ngà xám vô cùng quý giá… Từ thế kỷ 16 người Nhật Bản đã rất ưa chuộng gốm Bát Tràng mà họ gọi là gốm Kốt – chi (tức gốm Giao Chỉ). Họ cho ràng đây là mẫu mực về kỹ thuật chế tác cũng như kiểu dáng. Theo ông Aslice (Bulletin desAmis du Vieux Hue, No4- 1919)những năm từ 1597 – 1863, nhiều nghệ nhân gốm lỗi lạc của Nhật Bàn đã học làm các mẫu lọ độc bình, bát vẽ ’’chuồn chuồn” của Bát Tràng. Và ông nhận xét rằng: “Họ học hỏi với sự trân trọng và khiêm tốn, nhưng hoa đào núi Phú Sĩ, đường vân hoa văn như những vết nứt nặng nề của miệng núi lửa trên gốm Nhật Bản vẫn không sao hòa trộn được với những cánh sen, tàu chuối,
vân mây của vùng đất Cận Đông Nam Châu Á này”.

Dù xuất hiện ở đâu, gốm Bát Tràng vẫn tiềm ẩn một vẻ đẹp riêng của mình với cốt gốm đày dặn với lối tạo hình be chạch, vuốt tay trên bàn xoay với nét vẽ phóng khoáng, tự nhiên, và sâu lắng của lớp men phủ. Ngày nay trong nhiều gia đình, các đình, chùa, đền, miếu, hay viện bảo tàng vẫn lưu trữ được nhiều đồ gốm độc đáo của Bát Tràng như cây đèn dầu lạc làm ngày 24 tháng 6 niên Diên Thành thứ 3 (1580) của Nguyễn Phong Lai và Hoàng Ngưu, rồi chiếc lư hương miệng tròn làm vào ngày rằm tháng 8 niên hiệu Cảnh Trĩ thứ 9 (1671). Cây đèn men rạn được trang trí nổi nhiều loại hoa lá, long ly qui phượng do Đỗ Phủ làm vào niên hiệu Hoằng Định (1601 – 1619) đã khẳng định người thợ gốm Bát Tràng làm được men rạn từ đầu thế kỷ 17, chứ không đợi để học cách làm men rạn của Đường Anh vị chủ lò gốm trấn Cảnh Đức vào đầu thế kỷ 18. Gốm Bát Tràng không chỉ người trong nước mà còn được người nước ngoài rất hâm mộ. W.J.Bush trong bài “Công ty Ẩn Độ -Hà Lan và Đông Dương” (W.J.Bush La Compangre des
Indes Mérlandaises et Ưlndo) viết năm 1661 đã cho bỉết các thương nhân Hà Lan mua rất nhiều đồ gốm Bát Tràng trong đó có cả những viên gạch nổi tiếng, Năm 1670 tầu Hà Lan đã chở đi 214160 chiếc đồ gốm… Còn Dampier trong cuốn “Một chuyến đi Bắc Kỳ năm 1688” (W.Dampré un Voyage au Tonkin en 1688 R.I.1909) có viết: Viên tàu trưởng Poll đã buôn 10 vạn chiếc chén loại nhỏ làm bằng đất sét xám rồi bán lại cho thống đốc Bloon ở Sumatra
(một hòn đảo thuộc Malai) với giá rất hời”. Cho đến tận hôm nay gốm Bát Tràng vẫn đủ sức cạnh tranh với các mặt hàng trong nước và vẫn cuốn hút được những khách hàng hâm mộ ở Pháp, Nga, Nhật Bản, Thụy Điển và các nước  Hồi Giáo…

Đến với làng khảm Chuyên Mỹ (huyện Phú Xuyên Hà Nội) thì tài năng người thợ khảm đã thể hiện thành những bức tranh kỳ ảo lạ thường. Ở mỗi vị trí, góc nhìn khác nhau, ánh sáng khác nhau bức khảm sẽ có màu sắc riêng, lấp lánh, biến hóa thành nhiều bức tranh khác nhau đến
ngỡ ngàng. Người thợ Chuyên Mỹ đã đem tài năng, tâm huyết, làm đẹp cho kinh thành Thăng Long cổ kính, cho cố đô Huế thơ mộng trầm tư, cho đình đền chùa miếu trang nghiêm và cho đến cả những gia đình khá giả ở nông thôn thành thị. Tài năng của người thợ khảm đã được đánh giá cao tại hội chợ đấu xảo Paris năm 1877 làm ngạc nhiên nhiều người đã từng quá quen thuộc với máy móc kỹ thuật.

Một vài người Pháp sống vào thế kỷ 19 đã không tiếc lời ca ngợi thợ khảm Chuyên Mỹ Việt Nam: “Khi ta quan sát khiếu thẩm mỹ và sự chuyên tâm cùa người thợ khảm trong lúc họ làm việc, ta có cảm tưởng rằng đó là những nghệ sĩ ở trình độ cao nhất”.

Còn có biết bao làng nghề nồi tiếng khác làm sao có thể kể hết. Nhưng đằng sau niềm vinh quang ấy tiếc thay còn biết bao người thợ thủ công, tài năng là thế, cần cù là thế,
vẫn chịu kiếp sống khổ cực nối đời vì nghề:

Giã nay rồi lại giã mai,

Đôi chân tê mỏi gió ơi vì mày …

Seo đêm rồi lại seo ngày

Đôi tay nhức buốt vì mày giấy ơi

Thật tủi thân và chua xót khi những chàng trai thợ được nghe những lời người ta khuyên nhau, cho dù là sự thật

Thừa con chằng gả cho anh hàng tờ

Đến ba mươi tết vẫn phất phơ ngoài đường.

Và:

Hoài người lấy chú thợ khay,

Cò cưa ký quéc có ngày không cơm

Cũng đúng thôi vì làng nghề chỉ được xếp vào loại thần dân “thứ ba” trong xã hội phong kiến Việt Nam, chỉ trên tầng lớp thương nhân, nhưng lại không giàu bằng họ vì “phi thương bất phú” là điều hiển nhiên xưa nay. Đó là chưa nói đến “chữ tài liền với chừ tai một vần”. Triều đình phong kiến thi thoảng cũng ban cho người thợ tài hoa này hàm cửu phẩm, cho người kia tước bá, tước hầu, nhưng thực chất chỉ là thuốc tê xoa dịu những nỗi sưu cao thuế nặng, những nỗi ngặt nghèo của các làng nghề. Sử sách đã chép có thời kỳ, bộ Công của triều đình nhà Nguyễn trưng dụng thợ giỏi trong dân gian sắp xếp thành đội ngũ làm việc trong các xưởng dệt nhà nước, sản xuất các mặt hàng đặc biệt phục vụ cho vua quan cung đình. Công việc vất vả, lại đòi hỏi tài nghệ cao cường. Sự đãi ngộ đơn bạc đã dẫn đến cái chết mòn mỏi của biết bao bàn tay vàng sau những bức tường thành kín mít ở kinh đô. Chưa đủ, bàn tay của triều đình như những vòi bạch tuộc vươn đến từng làng nghề nghèo khó, nhỏ nhoi. Làng La Khê (Hà Nội) vốn nổi tiếng gần xa với lụa Vân, lụa Bạch, các loại sa màu, dưới triều Gia Long. Minh Mạng đã điêu đứng khổ sở vì mỗi năm phải nộp cho triều đình 600 tấm sa mỗi tấm dài 28 thước. Thậm tệ hơn, cả làng La Khê tài hoa như thế đã bị triều đình Thiệu Trị biên chế thành một cơ sở dệt của nhà nước với cái tên “chức tạo cục”. Thế là từ đó, làng La Khê một cổ mấy tròng: Ngoài lệ nộp 600 tấm sa hàng năm người thợ còn nai lưng trong “chức tạo cục” để cung phụng
cho triều đình. Đã có những lúc họ không chịu đựng nổi: “Nhà nước đòi sơn thì họ chặt cây sơn đi, nhà nước đòi vải lụa thì dân phá khung dệt, đòi gỗ thì dân quăng búa rìu, đòi tôm cá thì dân xé lưới”(Phan Huy Chú – Lịch triều hiến chương loại chỉ- Quốc dụng chỉ) Nhưng rốt cuộc người
thợ vẫn không bỏ nghề, làng nghề vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt” cho đến hôm nay. Làng nghề thủ công đã và sẽ tồn tại mãi với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc bởi người thợ hành nghề không chỉ vì mục đích kinh tế mà còn do nhiều yếu tố khác thiêng liêng mật thiết, nó trở thành một chất kết dính bền vững trong các làng nghề. Người thợ thủ công Việt Nam đồng thời cũng là người nông dân. Họ hành nghề theo kiểu “gia đình cồng nghệ”. Mỗi gia đình là một công xưởng, họ có quan hệ bà con ruột thịt với nhau trong một nhà dưới sự điều hành của người gia trưởng chứ không có quan hệ chủ thợ như trong các công trường thủ công hay ở các nước công nghiệp phát triển khác. Họ gắn bó với nhau trong từng làng. Đấy là nơi chôn rau cắt rốn, là nơi họ sinh ra và lớn lên, tiếp nối từ đời nọ sang đời kia. Ở đấy họ có những phong tục tập quán riêng không giống bất cứ làng nào. Họ có chung thành hoàng làng (tổ của làng) và tổ nghề (đối với những làng thành hoàng không phải tổ nghề). Vì những lẽ đó tính cộng đồng làng xã rất gắn bó. Người ta chỉ có thể mất nước chứ không thể mất làng. Tâm lý chung của người thợ thủ công xưa kia là không muốn đi làm ăn xa dù đời sống có khá giả hơn. Có người vì hoàn cảnh nào đó phải dời bỏ làng quê đi hành nghề nơi khác thì khi về già cũng trông ngóng tìm cơ hội để trờ về.

Ở những làng có nghề tinh xảo, nghề truyền thống, đối với người ngoài làng họ giữ rất kín. Con gái đi lấy chồng làng khác không được làm nghề làng mình. Có làng cấm con gái không được đi lấy chồng nơi khác, lại có làng có qui định những bí quyết của nghề chỉ được dạy cho đàn ông hoặc đàn bà có con chứ không được dạy cho con gái… Những tục lệ như thế này được mọi người tuân thủ một cách tự giác và nghiêm ngặt, nhưng đó là chuyện xưa ngày nay đã đổi khác nhiều rồi.

Các làng nghề xưa cũng có tổ chức phường hội trừ rất ít làng như gốm Bát Tràng chia thành phường dựa theo các công việc chuyên môn. Ví dụ như: Phường dựng lò: khi xưa lò ếch cỡ nhỏ của từng gia đình, mỗi khi dựng lò đều phải mời thợ giỏi về giúp. Người chủ gia đình chỉ phải lo cơm rượu thay cho công sá. Khi những lò đàn lò bầu cỡ lớn xuất h iện thì đồng thời hình
thành các phường dựng lò. Phường do những người thợ giỏi làng Giang Cao đảm nhận. Phường này chịu trách nhiệm từ việc xây cất ban đầu đến việc tu bổ theo dõi sau mỗi mẻ lò.

Phường dồi bát và phường ve lừa: Hương ước của làng quy định: “Bất khả giáo huấn phi tử tôn” (không thể dạy nghề cho những người không phải là con cháu mình) nên phường này chỉ có người Bát Tràng mới được làm. Chỉ đàn ông mới ở phường dồi bát. Phường ve lừa thì ít nhất có
một người cắt dò và ve lòng, một người trang trí và chấm cúc, một người lừa (xếp sản phẩm theo từng cọc). Họ tạo thành một dây chuyền chặt chẽ dưới sự chỉ đạo của người “xuất cả”.

Làng gò đồng Đại Bái thì tổ chức phường lại chia theo địa bàn cư trú. Làng có 4 xóm, mỗi xóm là một phường sản xuất một loại hàng nhất định. Xóm tây chuyên về đánh mâm, xóm ngoài chuyên làm nồi, xóm giữa làm ấm siêu và xóm Sôn chuyên đánh chậu. Còn có thêm một phường chuyên mua bán để cung cấp vật liệu và tiêu thụ hàng hóa gọi là phường hàng chợ, trong phường tất cả đều là gia đình của các thợ thủ công gò đồng, đời đời truyền kinh nghiệm cho nhau, trong gia đình cũng như trong ngõ xóm. Không biết ngày xưa các phường ấy có văn bản hay quy ước bất thành văn nào không, nhưng tổ chức phường thì đến bây giờ vẫn tồn tại. Gia đình này hành nghề độc lập với gia đình kia trong việc sản xuất và lưu thông, không có gì ràng buộc nhau cả. Có sự chuyên môn hóa cao độ, nhưng chỉ với ý nghĩa phân biệt với sự hành nghề của các xóm khác, chứ không có một sự chỉ đạo tập trung nào. Theo nhu cầu xã hội, những người thợ thủ công này cũng lưu tâm đến các mặt hàng khác và hành nghề rải rác trong xóm này
hay xóm kia (thí dụ có người chuyên làm cồng chiêng, làm chuông, làm đỉnh…) song không có tình trạng làm tranh nhau. Nếu ai đó muốn hòi về một mặt hàng nào không thuộc của phường thì được giới thiệu một cách hào hứng và trân trọng sang tìm ờ phường khác hay một gia đình
khác. Nhìn chung phường hội ở các làng nghề là nhằm giữ tình đồng nghiệp để cùng giúp nhau khi hội viên cỏ việc vui mừng hay lo buồn. Những phường hội ấy hàng năm họp một hay hại kỳ, cử ra một người làm trưởng phường và lo làm lễ giỗ tổ nghề, một nghi thức trọng đại và thiêng
liêng ở các làng nghề hàng năm.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN