Hệ sinh thái tự nhiên và dấu ấn của nó trong văn hóa Nam Bộ

Việt Nam có ba miền và mười ba khu địa lý tự nhiên như sau: miền Bắc và Đông Bắc Bộ gồm ba khu Việt Bắc, Đông Bắc và đồng bằng Bắc Bộ (châu thổ sồng Hồng); miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ gồm năm khu Hoàng Liên Sơn, Tây Bắc, Hoà Bình -Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên; miền Nam Trung Bộ vả Nam Bộ gồm năm khu Công Tum -Nam Nghĩa, Đắc Lắc – Bình Phú, Cực Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ (châu thổ sông Cửu Long).

Ở mỗi vùng, đất đai, khí hậu, địa hình, thủy văn, động thực vật mỗi khác nên sinh hoạt của cư dân trên đó cũng tuỳ hoàn cảnh mà biến dịch với độ dung sai văn hóa thích ứng. Trên cơ sở đó và cùng với nó, các đặc điểm khác về kinh tế – xã hội, dân cư – dân tộc v.v… càng làm cho tính đặc thù văn hóa của mỗi vùng càng thêm rõ nét. Lễ hội dân gian Việt Nam đã từng hình thành và phát triển từ trong lòng cộng đồng bản địa Việt cổ. Song hành vói tín ngưỡng, tôn giáo cùng các sinh hoạt văn hóa dân gian khác, Lễ hội dân gian đã băng qua nhiều tầng, lớp văn hóa cổ đại, cổ truyền để đến hôm nay vẫn là một di sản vàn hóa được đông đảo nhân dân ngưỡng mộ. Di sản folklore có gốc gác xa xưa ấy đã theo chân những đoàn người Việt di dân vào phương Nam từ ba, bốn trăm năm gần đây, và đến mỗi vùng, do đất trời khác đi, con người khác đi mà từ bản gốc đã nảy sinh nhiều dị bản. Một số trong những dị bản quan trọng đó là những nét đặc thù trong các sinh hoạt Lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ.

Để nhận chân từng nét dị bản nói trên và đối sánh với bản gốc, từ đó lý giải đặc điểm quá trình tạo tác, giao lưu và tiếp biến văn hóa với những thành tựu đầy sáng tạo của tộc Việt trên vùng đất Nam Bộ, chúng ta cần bắt đầu đi từ những nhận thức cơ bản về môi trường sinh thái tự nhiên, về con người Nam Bộ, về xã hội cổ truyền Nam Bộ cùng các điều kiện khách quan, chủ quan khác góp phần tạo nên vẻ riêng cho sinh hoạt Lễ hội dân gian của người Việt ở trong vùng với các khía cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc đặc thù của nó.

văn hóa Nam Bộ

Nam Bộ là vùng đất nằm ở cực nam nước ta, trước kia chủ yếu thuộc địa bàn Nam Kỳ Lục Tỉnh (từ năm 1834), trước đó nửa là Thành Gia Định (từ 1808), Trấn Gia Định (từ 1802), hoặc Phủ Gia Định (từ 1698)… Lùi xa hơn, đây có thể là nơi thuộc một phần địa giới suy tàn dần của vương quốc Chân Lạp và xa xưa hơn nửa là của những chủ nhân nền văn hóa Óc Eo từng rực rỡ một thời, Nguyên là vùng đất được hình thành chủ yếu trong giai đoạn tân kiến tạo qua nhiều biến động địa chất, nhiều đợt biển tiến biển lùi dữ dội, Nam Bộ ngày nay trở thành một đồng bằng châu thổ lớn của Đông Nam Á và lớn nhất Việt Nam (rộng 63.622 ki-lô-mét vuông, chiếm 20% diện tích của cả nước: Số liệu điều tra tháng 4/1989), bao gồm hai tiểu vùng địa lý – sinh thái: vùng phù sa cổ miền Đông Nam Bộ (gồm các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh) và vùng phù sa mới miền Tây Nam Bộ, còn được gọi là vùng đồng bằng sông Cửu Long (gồm các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau). Trên từng tiểu vùng cũng như trên toàn vùng nhìn chung sinh thái tự nhiên (và xã hội) Nam Bộ vừa phong phú, đa dạng, đồng thời lại vừa có nhửng nét thống nhất cơ bản với thiên nhiên (và văn hóa – xã hội) của cả nước. Điều này sẽ được phân tích trong các bài sau. Ở đây chúng ta cần nhấn mạnh một yếu tố chung nhất về địa lý có ý nghĩa quan trọng đối với các quá trình giao tiếp văn hóa dân tộc ở Nam Bộ. Trên tổng thể bản đồ địa lý Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung, Nam Bộ vốn là một bán đảo lớn hình tam giác với hai mặt giáp biển (Biển Đông và vịnh Thái Lan), đồng thời nằm ở vị trí trung tâm khu vực thuộc địa bàn thuận lợi nhất cho việc giao thông, liên lạc quốc tế về hàng hải (kể cả về hàng không giai đoạn sau này), do đó nó trở thành “phần nhô ra” nhiều nhất của nước ta để làm “cầu nối” hoặc “cửa ngõ” thuận tiện cho việc mở rộng giao lưu, tiếp xúc với các nước trong khư vực và thế giới, kể cả lục địa và hải đảo. Không phải ngẫu nhiên mà người ta đã tìm thấy trong các di chỉ khảo cổ đã phát hiện ở Nam Bộ thời gian qua tập hợp rất nhiều dấu vết của các nền văn hóa khác nhau thuộc nhiều khu vực trên thế giới, gồm cả có sự hội tụ, gặp gỡ bước đầu của văn minh Đông, Tây. Điều đó cùng nhiều dẫn chứng khác góp phần xác minh rằng, như nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định: từ xa xưa cho đến nay, Nam Bộ thực sự từng là vùng đất ở vào vị trí “ngã tư đường” giao tiếp cua các cư dân và các nền văn hóa, văn minh trong khu vực và trên thế giới.

Tất nhiên, yếu tố địa lý – tự nhiên chưa phải là tất cả. Nếu không tính đến nhân tố quyết định là con người (nhân văn), sức mạnh của truyền thống (các giá trị văn hóa) v.v… thì người ta không thể hiểu đúng và thấy hết các thế mạnh trong đặc điểm chung và riêng của hệ sinh thái tự nhiên (và cả sinh thái xã hội) ở Nam Bộ. Do vậy, cái nhìn địa – văn hóa (hoặc địa lý – nhân văn) và quan điểm biện chứng, đặc điểm sinh thái tự nhiên Nam Bộ trong mối quan hệ tổng thể với thiên nhiên cả nước, cả khu vực là rất cần thiết trong khi xem xét phần này.

1/ Nét chung của địa hình Việt Nam là đất không rộng (329.000 ki-lô-mét vuông) và hẹp chiều ngang (kinh tuyến) nên phải kéo dài theo chiều Nam – Bắc đến 15 vĩ độ thành dải đất chữ S. Tuy nhiên toàn bộ bản đồ Việt Nam trong đó có Nam Bộ vẫn nằm gọn trong vung nội tuyến (dưới chi tuyến Bắc) nên khí hậu bao trùm là nóng. Biểu thị đới tính(zonalite) ấy đã ấn định cho địa lý Việt Nam đặc điểm chung bao trùm là nóng ấm mà số liệu diễn biến nhiệt độ của nó vẫn thường xuyên làm bệ đỡ vững vàng cho đời sống văn hóa dân tộc giữ được những mẫu số chung cần thiết.

2/ Đặc điểm thứ hai của bản đồ địa lý – vật lý Việt Nam là mưa và ấm: Vì mưa nhiều nên thời tiết thường ẩm, lại vì quá ẩm nên hay mưa (quá mù thành mưa- tục ngữ Việt Nam). Độ ẩm thấp thường là 90%, có nhiều tháng hơi nước bão hòa trong không khí đến 100%; lượng mưa trung bình hàng năm từ 1,5 mét đến 2 mét. Cứ theo luật đới tính thì phần Bắc Việt Nam, cái nôi của văn hóa dân tộc lẽ ra rất ít mưa, vì nằm trong vùng cao áp thường xuyên của địa cầu, nơi có chí tuyến Bắc băng ngang qua những sa mạc lớn châu Phi, châu Á. Nhưng gió mùa châu Á đã phá vỡ luật đới tính này trên cả vùng lớn Á châu, trong đó có Việt Nam, gây ra hiện tượng hai mùa nhịp nhàng đều đặn hàng năm. Cho nên nếu vì đới tính mà Việt Nam có nắng nóng, thì vì luật phi đới tính(azonalite), mà Việt Nam, cùng đại khối gió mùa châu Á (L’Asie du mousson) – tức những nước cùng thường xuyên chịu ảnh hưởng loại gió đem mưa nhiều nhất thế giới – lại rất ẩm và mưa, đó là đặc điểm lớn thứ hai của địa lý Việt Nam. Đặc điểm này kết cấu với đặc điểm đầu tiên tạo nên “nền tảng” cơ bản đối với sinh thái Việt Nam, đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam, và từ kinh tế mà liên thông đến sự phát triển của văn hóa vùng cả về cường độ, nhịp độ và tính chất, trong đó không thể không có những sinh hoạt Lễ hội dân gian cầu mùa, cầu đảo, cầu an…

3/ Mặt khác, từ lâu người ta đã biết rằng đất ở Việt Nam được phân bố theo tỷ lệ “Tam sơn, tứ hải, nhất phần điền” nghĩa là núi chiếm ba phần, đất chỉ một phần và rồi cả hai phần nội địa đó chỉ bằng phần lãnh hải. Như là một lẽ tất yếu khi trên đất nước này, sau giai đoạn đầu quần cư ở vùng trung du, xưa nay hầu như dân Việt chỉ chọn vùng đắc địa là đồng bằng – châu thổ, nơi dồn tụ những  dòng nước phù sa cực kỳ màu mỡ. Có thể nói trên dải đất này ở đâu có diện tích sa bồi, có sông ngòi là ở đó có người Việt. Người ta nói rằng sông nước là đặc điểm quan trọng thứ ba của địa lý Việt Nam, đất nước của hai ngàn sông chảy kể từ 10 ki-lô-mét trở lên, của hàng trăm cửa sông đổ ra bể sau khi cắt xé địa hình thành từng thuỳ, từng dải hẹp của mấy châu thổ (delta) chi chít sông cả, sông con và kênh rạch, mà điển hình nhất là châu thổ Cửu Long ở Nam Bộ với “Chín con rồng” phun nước ra biển Đông ào ạt ngày đêm!


“Địa cuộc Nam Bộ” (chữ của Trịnh Hoài Đức trong “Gia định thành thông chí”)được đánh giá khả quan từ hồi khai căn, khai cơ cho những thôn ấp của di dân khẩn hoang. Cho dù lúc đầu đất đai nơi đây còn rậm rì lau lách, mây, tre (Đường Mây, Xẻo Mây, Rạch Cà đao tức mây – tiếng Khmer, Bến Tre…), còn hoang thứ trên cạn dưới nước đầy đàn (Đồng Nai, Bến Nghé,Bàu Sấu…)thì chỉ ít lâu sau, vùng sông nước rải rác đầm lầy này, cái vùng “Tàn hà đái thấp” (chữ của Nguyễn Cư Trinh viết về Nam Bộ) đã trở thành “đất hứa”. Các chúa Nguyễn đã từng gọi vùng tân khai này là đất “Hưng Long”. Đúng là, truyền thống “văn minh sông nước” của cư dân sông Hồng, sông Mã… đã được phát huy trong cộng đồng những người “đi mở cõi“ với sự nghiệp chinh phục xứ sở Nam Bộ, đã giúp họ làm chủ vùng sông nước rất lạ nhưng lại rất quen này!

Nam Bộ bao gồm hai vùng đất có nét riêng rõ rệt: Vùng Bắc, núi đồi thấp với những thềm phù sa cổ, được nhìn nhận như diềm phía Nam của đai khối cao Tây Nguyên từ đó Đa Nhim, Đa Dung hợp lưu lại thành sông lớn Đồng Nai, tiếp nước của La Ngà rồi vượt qua Trị An tới gặp sông Bé, sông Sài Gòn, để đổ ra cửa Lòng Tàu. Tiếp nối địa hình bốn sơn địa này là một đồng bằng châu thổ phẳng và thấp cao trình chỉ từ 0,5 mét đến 1 mét, độ dốc rất nhỏ (1 mét/100 ki-lô-mét). Đây là sản phẩm bồi tụ của Mê Kông, con sông dài nhất, nhiều nước và nhiều phù sa nhất Đông Nam Á trên một khuôn vịnh nông kéo dài từ bồn địa Tông-lê-sáp (Cam-puchia) tới đồng bằng sông Tiền và Hậu Giang. Việc bồi tụ này vẫn đang tiếp diễn để nới rộng, kéo dài những dải rừng sác mỗi năm mỗi lan ra ở phần chót tấm bản đồ hình chữ S. Dòng Cửu Long cứ theo con nước ngọt nhịp nhàng thường năm vượt qua các giồng đất ven sông để mang phù sa bồi đắp thêm cho đồng ruộng, (gần đây nhịp độ này đả bất bình thường hơn và cường độ lũ củng đã biến động xấu). Đất thấp và xốp cộng với thủy triều cao, sông lại lắm nước nên quá trình tiêu chảy của sông trong vùng hạ lưu thường tạo nên nhiều chi lưu dày đặc như những đường gân trên lá. Trong vùng đồng bằng Nam Bộ, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long, đất thường bị cắt xẻ vụn. Có những nơi tuy bám vào đất liền nhưng lại có thể hiểu lả cù lao vì sông nước bao vây khắp phía (như ở Nhà Bè, ở Bến Tre…). Vì vậy việc đi lại, vận chuyển, giao liên nơi đây bằng phương tiện chủ yếu trước sau vẫn là phải có chiếc thuyền (ghe, xuồng), Thậm chí, để đem đời sống văn hóa đến cho đại chúng vùng này, gần đây người ta đã phải dùng “Thuyền văn hóa” (chứ không phải là “Nhà văn hóa”) để mà diễn kịch, chiếu phim, liên hoan ca múa…phục vụ nhân dân ngay trên sạp thuyền và trên sông nước!

Do đất rộng, người thưa, lúc đầu cần nhân lực nhiều nên từ sớm Nam Bộ đã cất lời mời gọi theo kiểu cách:

“Nhà Bè nước chảy chia hai,

Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”

Hoặc thách thức, khích lệ:

“Làm trai cho đáng nên trai,

Phủ Xuân đã trải, Đồng Nam đã từng”…

Tóm lại, Nam Bộ là một trong những vừng “cát địa” của dân tộc. Ở đây, cái đại đồng địa lý – tự nhiên của vùng với thiên nhiên của toàn quốc là cơ sở quan trọng tạo nên sự thống nhất cho cả nền văn hóa Việt Nam; cái tiểu dị địa – văn hóa của địa phương so với các vùng khác lại góp phần tạo nên những đường nét văn hóa đa dạng, phong phú cho chính nó. Lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ nói riêng, cũng như Lễ hội dân gian Việt Nam nói chung vốn có cùng một cái nền, nhưng sở dĩ không đơn điệu hoặc đồng nhất trên các vùng miền khác nhau lả bởi lẽ, ngoài những lý do ảnh hưởng bởi điều kiện xã hội – lịch sử cụ thể còn phải kể tới nhửng hệ quả địa – văn hóa như thế nữa.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN