Sự ra đời của các làng nghề thủ công

Có lẽ từ khi xuất hiện con người thì đồng thời cũng nảy sinh những nhu cầu về ăn, mặc, ở và những vật dụng phục vụ cho cuộc sống hàng ngày. Dù rằng ở cái thủa ban đầu xa xưa ấy, tất cả đều còn rất vụng về thô thiển. Các nhà khảo cổ học đã tính toán rằng từ thời đại đá cũ (cách đây hàng vạn, hàng triệu năm) đã có tới 12 chất liệu (gỗ, tre, bương, sừng, vỏ trai, ốc, da…) dùng để chế tạo các loại công cụ, dụng cụ (Andere Leroi Gourhan – L ’homme et ỉa matière (con người và chất liệu) Abel Michel, Paris 1958). Đến thời đại đá mới (cách đây khoảng 10.000 năm) có thể đã có những “làng nghề” đá và gốm… F.Engels từng viết: “người ta đã tìm được ở nhiều nơi những di tích chắc chắn là của những công xưởng chế tạo công cụ bằng đá thành lập từ
cuối thời đại Đá. Những người thợ thủ công đã trau dồi kỹ năng của mình tại các di chỉ xưởng ấy, có lẽ đã làm việc cho cồng xã, cũng giống như những người suốt đời làm thợ thủ công trong các tập đoàn thị tộc Ấn Độ ngày nay vậy (Ăng ghen – nguồn gốc gia đình của chế độ tư hữu và nhà nước (bản tiếng việt) NXB Sự thật, Hà Nội 1962, tr31-32).

Những thành tựu gần đây nhất của khảo cổ học Việt Nam đã khẳng định: từ thời Hùng Vương, đúc đồng đã trở thành một nghề khá phát triển trên địa bàn cư trú của người Việt giữa sông Hồng và sông Mã. Qua so sánh những hoa văn trước thời đồ đồng trên đồ gốm Việt Nam với những hoa văn trên trống đồng người ta thấy có sự kế thừa và nối tiếp giữa hai loại hoa văn đó. Và còn nhiều loạỉ như hoa văn chấm thành dải, hoa văn hình chữ S… trang trí trên đồ gốm tìm thấy ở di chỉ Phùng Nguyên (cách đây khoảng 4000 năm), gò Mun (cách đây khoảng 3000 năm) xuất hiện một cách tinh tế hơn, điêu luyện hơn trên các trống đồng Đông Sơn (cách đây gần 3000 năm). Qua đó ta thấy rằng: “Nghệ thuật trang trí trống đồng đã mang đậm sắc màu truyền thống của nghệ thuật trang trí Việt Nam”.

Đó là một chứng cứ để nói rằng phần lớn đồ đồng tìm thấy ở Việt Nam trong đó có những trống đồng nổi tiếng, là do chính những người thợ đúc đồng Việt Nam cổ đại chế tạo (Hà Văn Tấn “Từ đồ gốm Phùng Nguyên đến trống đồng”. Khảo cổ học, số đặc biệt Trống đồng – 1974, tr. 39 – 53).

Chắc chắn là từ thời đó, đúc đồng đã trở thành một nghề chuyên môn bởi nghệ thuật tạo khuôn, pha chế hợp kim, đường nét hoa văn tinh vi sống động. Chẳng thế mà những chiếc trống đồng đúc ra không những đảm bảo độ cứng, họa tiết sắc nét, đa dạng, mà tiếng nó vang xa, thần bí, kích động được lòng người. Hàng mấy chục thế kỷ sau, Trần Phu, sứ thần nhà Nguyên khi sang nước ta nghe tiếng trống đồng còn phải thốt lên:

Kim qua ảnh lý đan tâm khô,

Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh

Tạm dịch:

Gươm giáo sáng lòa lòng quặn đắng,

Nghe tiếng trống đòng tóc trắng ra.

Đến nay mỗi khi nhìn những hiện vật bằng đồng đã bị hoen rỉ bởi thời gian, trong lòng ta vẫn cảm thấy dư âm hùng tráng của tiếng trống đồng thuở trước, tiếng của hàng vạn mũi tên đồng cổ Loa vượt gió lao về phía quân thù, tiếng của những lưỡi cày đồng hình bướm, hình quả tim hay hình tam giác cân… đang lật xới những mảnh đất màu mờ, Thanh Hóa, Hà Tây, Đông Anh (Hà Nội). Và ta không thể không cảm phục tài ba cùng với đôi tay kì diệu của các thế hệ cha ông.

Không phải chỉ đồ đồng, lòng đất đã chống chọi với bao sự tàn phá nghiệt ngã của thời gian để giữ lại được một số đồ gốm vào loại tối cổ ở nước ta. Trong ngôi mộ táng của người nguyên thủy ở làng Đa Bút huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa còn thấy một số hòn đất nung hình bầu dục dẹt, xung quanh có những vạch khía mảnh và đều như sợi chỉ. Người ta cho rằng đây có thể là những hòn đất nung để mắc lưới đánh cá từ thời kỳ đồ đá mới. Bên cạnh đồ gốm xinh xắn như trên, Đa Bút còn có những chiếc vò thô sơ bên ngoài in đậm dấu ấn của các đồ tre đan. Đây là hiện tượng khá phổ biến xuất hiện ở nhiều tộc người khác nhau vào thời nguyên thủy. Xưa kia tổ tiên ta chác chưa biết nặn đồ gốm bằng tay hoặc bàn xoay mà chỉ biết đan những chiếc khuôn bằng tre nửa theo hình dáng nghĩ ra rồi đem trát đắt vào bên trong những khuôn nan đó. Sau đó phơi khô đem nung trên lửa (với lửa ở nhiệt độ chưa cao), cả khối đất bên trong khuôn nặn sẽ bong ra, thế là những đồ gốm đầu tỉên ra đời còn in rõ những vết đồ đan làm khuôn nặn. Trước đó nữa, hàng vạn năm cách ngày nay, giới khảo cổ còn tìm được những mảnh gốm thô thuộc văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn.

Những hình vò tìm thấy ở Đa Bút (Thanh Hóa) cũng na ná như những thứ tìm thấy ở Đồng Thuộc (trong địa khôi Bắc Sơn, Lạng Sơn). Và nói chung những đồ gốm tìm thấy ở nựớc ta chất lượng đều rất thô sơ, nung chưa kỹ (Trần Quốc Vượng, Hà Von Tấn – Lịch sử chế độ cộng sản nguyên thủy ở Việt Nam. NXB Giáo dục, Hà Nội 1965, tr4142).

Sự xuất hiện của những đồ gốm đầu tiên có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống tổ tiên chúng ta thời nguyên thủy. Nó là thành quả trí tuệ của người Việt cổ đối với nhu cầu đời sống: nông nghiệp, chăn nuôi và đánh cá sơ khai.

Cuộc sống không ngừng phát triển, nhu cầu ngày một nhiều hơn, cao hơn, nghề gốm tiếp tục có những bước tiến mới.


Ở di chỉ đồ đồng Đông Sơn (Thanh Hóa) vẫn còn tìm thấy những vò đất nung lớn có mang chân, những nồi đít phẳng, đặt trên những chiếc bàn dài bằng đất nung; cho đến những viên gạch ngói xây thành c ổ Loa nổi tiếng. Những khuôn sành năm bẩy tầng trong lòng giếng khơi xóm chùa (Cổ Loa) xưa kia là nơi dành riêng cho Vua và quý tộc dùng…

“Xem thế có thể phán đoán rằng nghề gốm ở Cổ Loa có thể sản xuất được với một số lượng sản phẩm khá đa dạng để phục vụ cho những nhu cầu sinh hoạt đã tương đối phức tạp của quý tộc và bình dân thời đó” (Trần Quắc Vượng: trên mảnh đất cổ Loa lịch sử. Sở Văn hóa thông tin Hà Nội- 1970, tr 52,53).

di chỉ đồ đồng Đông Sơn
di chỉ đồ đồng Đông Sơn

Người Việt từ lâu lắm, tận ngày xưa cho đến hôm nay vẫn chủ yếu là người nông dân với cày cuốc ruộng vườn. Nguồn sống chính của họ là kinh tế nông nghiệp với nghề trồng lúa nước hay cạn và bên cạnh đó là trồng dâu nuôi tằm, trồng hoa màu, chài lưới…

Họ sống quây quần với nhau trong tinh thần cộng đồng, cộng cảm, ở những thôn xóm, làng xã, được bao bọc bởi lũy tre xanh với cổng làng sớm chiều đóng mở hay một vài lối nhỏ ra bãi chợ, bến sông. Người nông dân ngoài việc phải tất bật một nắng hai sương vì thời vụ, còn trong lúc nông nhàn người đàn bà thì lo toan chợ búa (chợ làng, chợ hàng tổng, hàng huyện) hay chăn tằm ươm tơ, dệt vải… đàn ông thì đẵn gỗ, chặt tre làm nhà cửa, đan lát thúng mủng, nong nia, đan lờ, đánh dậm…

Cho nên có thể tạm hiểu về các làng như sau: Những làng thuần nông nghiệp loại này không nhiều lắm, làng buôn với lớp thương nhân chuyên nghiệp hay nửa chuyên nghiệp như Phù Lưu, Đình Bảng, Phú Thị, Đa Ngưu… và làng nông nhưng có thêm một hoặc nhiều nghềnhư làng gốm Bát Tràng, làng Vân dệt lụa, làng khảm Chuyên Mỹ, làng tranh Đông Hồ… có thể xem đó là những làng nghề.

Từ nghề gốc là trồng lúa, hoa màu, các nghề thủ công, thủ công mỹ nghệ, vốn chỉ là nghề phụ, nghề làm thêm, nghề tay trái trong lúc nông nhàn đã làm cho làng quê nhờ đó mà nổi tiếng. Xem ra chẳng có làng nào chỉ có một làng nghề duy nhất, chí ít cũng phải có dăm nghề như làng Chài Kẻ Nưa có 17 nghề, làng Triều Khúc (Thanh Trì, Hà Nội) có đến 40 nghề… Lại cũng có nhiều làng cùng làm một nghề giống nhau, như gốm có Thổ Hà (Hà Bắc), Hương Canh (Vĩnh Phú), Hàm Rồng (Thanh Hóa), Vân Đình (Hà Nội), Hiển Lễ (Vĩnh Phúc), Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) và làng Mỹ Thiện (Quảng Ngãi)… Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì đầu thế kỷ 15, lúc đó chí ít nước ta cũng có gần 20 làng ấp, phường, huyện, hộ, có nghề dệt với các loại sản phẩm như gấm vóc, trừu, lụa, lĩnh là, the tơ. Có những loại vải nhỏ đẹp hơn lụa… Còn Lê Quý Đôn thì viết rằng: “Huyện Từ Liêm và Đan Phượng thuộc phủ Quốc Oai có nhiều bãi trồng dâu, nhân dân chăm về chăn tằm dệt cửi. Các xã Hạ Hồi, Thiên Mỗ, Ỷ La, Trung Thụy và Đại Phùng có tài dệt lụa, trừu, lĩnh, là, và các loại lụa dây (tục gọi là lĩnh hay láng), Xã Mật cầu làm được thứ Nụy đoạn (tục gọi là thung thúc) đủ các màu xanh, tím biếc, vàng không kém gì của Trung Quốc…”.

Tuy nhiên không phải nghề nào, làng nào cũng nổi tiếng cả. Nổi tiếng được hay không là nhờ vào sự kích thích của nhu cầu thị trường: thị trường đô thị, thị trường ven đô, thị trường vùng miền, thị trường cả nước và thị trường thế giới. Trước hết nói đến các đô thị mà đứng đầu là kinh đô Thăng Long:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.

Từ khi Lý Thái Tổ dời đô, Thăng Long trở thành nơi “bốn phương hội tụ”. Tầng lớp thị dân ở đây có cuộc sống tương đối sung túc so với các nơi. Họ làm ăn khá giả nên có nhu cầu sành ăn, sành mặc, sành chơi, sành dùng. Các chợ Đông, chợ Tây, chợ Nam lần lượt xuất hiện: “Bán mít chợ Đông, bán hồng chợ Tây, bán mây chợ huyện ” (chợ Đông Bạch Mã, chợ Tây Ngọc Hà, chợ Bắc Diệu Đức, chợ Nam Đại Hưng). Các dãy phố cũng hình thành, vào thời Lý Thăng Long có 61 phố phường. Theo Dư địa Chí (Nguyễn Trãi toàn tạp- Dư địa chí, NXB KHXH -1969, tr 193, 194), Thăng Long vào trước thế kỷ XV, đã có 12 nghề thủ công, đó là: “Phường Tàng Kiếm làm kiệu, áo giáp, binh khí, đồ đai, nậm, vỏng, ghế, vóc, dù, lọng, tán. Phường Yên Thái làm giấy. Phường Thụy Chương, phường Nghi Tàm dệt vải nhỏ và lụa. Phường Hà Vân nung đá vôi. Phường Hàng Đào nhuộm điều. Phường Tả Nhất làm quạt…” Những nghề này được mang từ các làng xã ở nông thôn ra kinh đô để lập nghiệp. Phổ phường có lẽ chỉ là bộ mặt bên ngoài của các chợ địa phương hoặc làng xã địa phương để người ta tiêu thụ những sản phẩm thủ công do chính tay họ làm ra. Baron, một học giả người Pháp, trong cuốn sách Miêu thuật vương quốc An Nam đã viết: “Tât cả các thứ hàng bày bán ở đô thị đều bán riêng ở từng phố, mà mỗi phố lại dùng cho một, hai hay nhiều làng mà chỉ có những người làng ấy mới được phép mở cửa hàng tại đấy”.

Chẳng hạn như nghề đồng (phố Hàng Đồng) là của dân làng Đại Bái, cầu Nôm (Hà Bắc) nghề thêu làm lọng (phố Hàng Lọng) là của dân làng Quất Động (Thường Tín Hà Nội) nghề bạc (phố Hàng Bạc) là của người làng Châu Khê (Hải Dương), nghề mành (phố Hàng Mành) là của người làng Giới Tó (Bắc Ninh), nghề quạt (phố Hàng Quạt) là của dân Đào Quạt (Hải Dương), nghề khảm (phố Hàng Khay) là của người Chuôn Ngọ (Phú Xuyên, Hà Nội)… Nhu cầu xã hội cũng là yếu tố kích thích nghề nghiệp tồn tại và phát triển. Do nhu cầu viết chiếu, sắc, lệnh của nhà nước quân chủ Đại Việt mà dân làng Nghĩa Đô có nghề làm giấy sắc rồng, để cung cấp giấy cho nhu cầu hành chính của quan lại, thi cử của sĩ phu, nhu cầu viết kinh in ấn của sư sãi. Và dù có nhọc nhẳn vất vả bao nhiêu để làm ra những tờ giấy lệnh, giấy hội thì các cô gái làng Bưởi (Yên Thái) vẫn thấy vui vẻ trong lòng:

Dám xin nho s ĩ đừng cười

Vì em làm giấy cho người đề thơ

Mọi tầng lớp trí thức, thương nhân, thợ thủ công, các xứ hội tụ về kinh đô cũng như các đô thị để đua khéo đua tài. Họ lịch lãm và mẫn cảm không chi trong đời sống chính trị – xã hội, mà cả trong mọi mặt văn hóa tinh thần. Điều này khiến các làng nghề ven đô cũng như cả nước đều phải tự vươn lên để có những sản phẩm khéo nhất, tinh xảo nhất, những đặc sản riêng của nghề mình, làng mình, cung cấp cho nhu cầu xã hội nói chung và đồ thị nói riêng. Đây là động lực quan trọng làm cho nghề nghiệp ngày một tiến triển. Rồi các “quan xưởng”,“bách tác cục”, nhà nước phong kiến trưng tập thợ giỏi ở các nơi vào đó để sản xuất những vật dụng cần thiết như đúc bạc ở Đông Tác thế kỷ 15, đúc tiền ở phường Ngũ Xã thế kỷ 18, sở nuôi tằm ươm tơ thời Lý Trần. Thư tịch cũ cho biết: Đầu thế kỷ 11 cho đến đời vua Lý Thái Tông số vải lụa trong cả nước nhiều đến mức không chỉ dùng để may mặc, trang trí mà còn thay tiền tệ để nộp thuế hoặc trao đổi mua bán hàng hóa. Nhà nước lập ra “quyến khố ty” để thu mua sản phẩm của dân. Nhà vua còn gọi thợ giỏi địa phương lên kinh đô huấn luyện cho cung nữ nghề dệt để mở rộng việc dệt gấm vóc. “Ấy là để tỏ ra rằng không cần mặc gấm vóc của nước Tống nữa”. Đến năm 1156 vua Lý Anh Tông còn tặng triều đình Tống Cao Tông 850 tấm đoạn màu vàng thẫm có hoa rồng cuốn và nhiều báu vật khác… Qua đây thấy rằng ở một khía cạnh nào đó những việc trên đã tạo đà cho các nghề thủ công phát triển. Ngược lại, một khi mà các bà cô không còn đội nón 3 tầm với quai thao duyên dáng thướt tha thì nghề dệt thao Triều Khúc cũng không còn. Khi các ho sĩ, sư sãi không đề thơ, viết kinh trên giấy hội, thì các cô gái làng Bưởi cũng đành xếp nghề xeo giấy lại để làm việc khác… Đôi khi nhu cầu xã hội vẫn rất lớn nhung nghề nghiệp không vươn lên đủ sức cạnh tranh với các làng khác thì cũng phải bỏ nghề trở về với cái gốc gác làm ruộng của mình như làng La Nhược Công (nay thuộc Thành Công quận Đống Đa, Hà Nội)…



BÀI VIẾT LIÊN QUAN