Sự tích tổ nghề gốm

Đào Nồi

Thần tích xã Chiêm Thạch chép lại rằng: Đào Nồi con ông Đào Hoàng vốn gốc người Tuyên Quang. Ồng tổ 4 đời đã chuyển cư về làng Hương Canh (Vĩnh Phúc) lập nghiệp bằng nghề năn nồi niêu. Nối được nghiệp nhà Đào Nồi nổi tiếng khắp vùng là người thợ lỗi lạc tài hoa. Ông lấy vợ họ Dương, người làng Chiêm Trạch, cũng là thợ làm nồi khá giỏi giang. Vợ chồng sinh được 2 con trai đặt tên là Đống và Vực.

Đào Nồi không những giỏi nghề mà còn tinh thông võ nghệ. Năm 25 tuổi trúng kỳ thi võ ông được Thục An Dương Vương cho làm quan và ban chức Nồi Hầu. Cả ba cha con đều làm việc dưới quyền của tướng quân Cao Lỗ.

Những trận chiến với quân Triệu Đà họ lập được nhiều chiến công. Khi Cao Lỗ bị dèm pha cách chức, ba cha con ông cũng từ quan về sống ở Chiêm Trạch.

Triệu Đà diệt được vua Thục đem quân vây làng Chiêm Trạch để bắt Nồỉ Hầu. Vợ chồng ông cùng con phá vòng vây chạy về quê cũ Tam Canh. Giặc vây bọc làng Canh, vợ chồng Nồi Hầu giả làm người bán nồi trốn về Chiêm Trạch. Đến nơi cổng làng chưa kịp mở giặc đã đuổi sát sau lưng, tình thế bức bách vợ chồng ông đành rút dao tự sát, hai người con trai cũng chết theo. Dân làng vừa thương xót vừa kính phục, liền chôn cất gia đình ông ở khu gò gọi là Mộ Thánh hóa (thôn Vĩnh Thanh xã Vĩnh Ngọc) sát bên sông Hồng. Đồng thời lập đền thờ để nhớ ơn người vừa là tổ nghề vừa có khí tiết, không đội trời chung với kẻ thù.

Lò gốm Hưng Lợi
Lò gốm Hưng Lợi

Đỗ Quang

Làng Hương Canh thuộc xã Tam Canh huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc vốn có nghề làm vại, làm tiểu sành… từ rất lâu đời. Dân gian kể lại rằng: Ngày xưa có ba ông cháu nối được nghề nghiệp cha ông, các ông bèn chia nhau đi: một người về Thanh Hóa, một người về Bắc Ninh, còn một người về Hương Canh. Cụ tổ ở Hương Canh là Đỗ Quang. Hành trạng cụ không được lưu truyền nhưng đền thờ và tượng vẫn còn. Đền không biết xây từ bao giờ nhưng vào năm Cảnh Hưng đã được tu bổ khang trang lộng lẫy. Hàng năm dân làng tổ chức giỗ tổ vào mùng 6 tháng giêng, ngày mất của tổ nghề. Ngày đó người thợ cao tuổi nhất làng được ra đền thắp hương, rồi dẫn đầu đám rước kiệu tổ đi quanh làng. Đám rước bao giờ cũng tổ chức ban đêm, khiêng kiệu là 8 chàng trai và 8 cô gái khỏe khoắn, chưa vợ chưa chồng. Kiệu có 3 chiếc lọng, chiếc lớn ở giữa che đầu cụ tổ nghề, hai lọng nhỏ che hai vai. Đi sau đám kiệu là con dân làng gốm. Ai không phải người làng gốm không được đi theo đám rước. Trên đường qua xóm ngõ, các gia đình đều phải dâng đuốc để soi sáng mặt tổ nghề, nếu thấy mặt cụ tổ có ánh đỏ rực rỡ thì năm đó làng nghề làm ăn phát đạt. Ngày khai nghiệp tổ chức vào ngày 16 tháng giêng âm lịch cũng rất trọng đại. Dân làng mổ lợn tế để sáng hôm sau các lò gốm bắt đầu đỏ lửa. Trước khi nung trưởng các phường phải biện một ván xôi, một con gà để làm lễ tổ ngay trên nóc lò. Mọi việc đều được làm vào ban đêm. Khi cúng người có thai hoặc người làng khác không được dự.

Hoàng Quang Hưng, Trương Trung Ái

Căn cứ vào một số tài liệu chữ Hán và chữ Pháp thì vào thời Triệu Đà có người thợ gốm phương Bắc tên là Hoàng Quang Hưng đến vùng Cửu Chân (Thanh Hóa) làm ăn. Ông biết sử dụng bàn xoay, cối xay, để nghiền luyện đất và vuốt chum, vại. Bấy giờ địa phương có người tên là Trương Trung Ái rất muốn học nghề nên mời ông thầy Tàu ở lại. Sau khi nghề nghiệp đã tinh thông hai người rủ nhau đến làng Đẩu Khê, huyện Thanh Lâm (tỉnh Hải Dương ngày nay) hành nghề và dạy cho dân ở đó. Con cháu họ Trương cũng đã phát triển được nghề nghiệp của cha ông ở Thổ Hà (Bắc Ninh) và Lò Chum (Thanh Hóa). Nhớ ơn người đã dạy nghề nghiệp cho mình, dân hai làng trên thờ Hoàng Quang Hưng và Trương Trung Ái làm tổ nghề, lập đền thờ phụng, hương khói muôn đời.


Đặng Huyền Thông

Dựa vào những thành tựu khảo cổ học mới phát hiện gần đây, ta biết thêm được một bàn tay vàng của nghệ thuật làm gốm đó là Đặng Huyền Thông, v ố n là một nho sĩ ở Thanh Lâm (nay là Nam Thanh, Hải Dương) ông không theo con đường cử nghiệp mà lại chuyên tâm làm gốm. Tên ông trên những chiếc bình, những chân đèn độc đáo thời Mạc Mậu Hợp (cuối thế kỷ 16) khiển ông còn mãi với nghề gốm của dân tộc.

Những vị tổ nghề gốm chỉ truyền lại họ tên

Nước ta có rất nhiều trung tâm gốm khác nhau. Mỗi trung tâm, mỗi nơi, mỗi vùng đều có lịch sử, có truyền thống, có tổ nghề, có kỹ thuật khác nhau. Nơi thì chuyên làm chậu, nơi lại chuyên làm nồi, làm chum, làm bát… với những đặc trưng về kiểu dáng, về màu m en, về độ dày mỏng khác nhau. Thời gian quá xa, dân gian không nhớ được sự tích của tổ nghề làng mình chỉ truyền lại cho nhau rằng:

Tổ nghề gốm Thổ Hà là LÝ BÁ DƯƠNG

Tổ nghề gốm Phù Lãng là ĐÀO TRÍ TIẾN và HỨA VĨNH KIỀU.

Tổ nghề gốm Bát Tràng là LƯU PHONG TÚ …



BÀI VIẾT LIÊN QUAN