Sự tích ông tổ nghề đúc đồng

Dương Không Lộ, Nguyễn Minh Không – tổ nghề đúc đồng

Nghề đúc đồng xuất hiện ở nước ta từ rất sớm, nhưng Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không là người đã có công xây dựng và làm cho nghề đúc đồng Việt Nam đạt tới đỉnh cao rực rỡ vào đời Lý. Dương Không Lộ là người Giao Thủy, phủ Hải Thanh (nay thuộc Hà Nam). Ông sinh năm Bính Thìn niên hiệu Hội Phong (1094). Xuất thân gia đình chài lưới ông theo đòi Phật học. Sau khi đắc đạo ông đi truyền giáo nhiều nơi, rồi về trụ trì tại chùa Nghiêm Quang sau đổi là Thần Quang (chùa Keo) huyện Vũ Thư, Thái Bình và chùa Phả Lại (Bắc Ninh).

Còn sư Nguyễn Minh Không tên thật là Nguyễn Chí Thành người làng Đàm Xá huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Vua Lý Thần Tông mắc bệnh hóa hổ, ông sai nấu dầu sôi rồi dùng tay vẩy khắp người vua, lông lá đều biến sạch trơn. Để đền ơn vua phong cho ông là Quốc sư triều Lý. Sinh năm Long Chương thiên tự thứ 1 (1066) và mất năm Đại Định thứ 2 (1114) hai ông sinh cách nhau 50 năm và mất các nhau 47 năm như vậy có thể xem là sống cùng thời được. Có lẽ cả hai ông đã có công đi quyên góp đồng để đúc tử đại khí: Tượng chùa Quỳnh Lâm, tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền… cho nên được dân chúng tôn là tổ nghề đúc đồng. Rất tiếc cả bốn bảo khí bằng đồng to lớn là thế đã bị quân nhà Minh phá lấy đồng đúc súng đạn để chống lại cuộc nổi dậy của nghĩa quân Lam Sơn. Sự thực là như vậy, nhưng dân gian đã đem nhập Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không, đồng thời lại gắn các ông với sự tích lấy kho đồng của phương Bắc bỏ vào túi trở về đúc chuông, sự tích trâu vàng Hồ Tây, của nhân vật huyền thoại sư Khổng lồ. Phải chăng trong con mắt dân chúng đây là hình ảnh ông tổ nghề đúc đồng từ thời xa xưa của người Việt thời của những thạp đồng, trống đồng Đông Sơn rực rỡ.

Phạm Quốc Tài

Chú tiểu Phạm Quốc Tài là người làng Đề Kiều nay là xã Nguyệt Đức (huyện Thuận Thành, Bắc Ninh). Dân ở đây kể lại ràng : Ngày xưa khi sư Không Lộ tu hành ở chùa Phả Lại, huyện Quế Dương tỉnh Bắc Ninh (nay là huyện Quế Võ) ngoài những lúc đèn hương niệm phật, nhà sư thường lấy đất nặn khuôn, đem phơi khô, rồi lấy đồng đun chảy đổ vào. Ban đầu ông đúc được một số đồ đơn giản như chậu, mâm, dần dần về sau đúc được cả chuông và đồ thờ tự. Giúp việc ông có hai chú tiểu là Phạm Quốc Tài và Tràn Lạc. Khi thạo nghề sư Không Lộ cho hai chú tiểu về quê. Phạm Quốc Tài đem nghề đúc tượng, đỉnh, nồi, chiêng, chuông truyền lại cho dân làng. Từ đó bốn xóm Rí Thượng, Rí Hạ, xóm Mé và xóm Rền quê ông có nghề đúc đồng. Nhớ ơn ông dân lập đền thờ phụng, tôn Dương Không Lộ và Phạm Quốc Tài là tổ của nghề đúc đồng.

Trần Lạc

Sau khi học thành nghề chú tiều Trần Lạc trở về quê làng Đông Mai (hay còn gọi là làng Nôm) nay thuộc xã Đại Đồng huyện Mỹ Văn tỉnh Hưng Yên truyền lại nghề cho dân. Đề Kiều (Cầu) và Đông Mai (Nôm) là hai làng giáp gianh nhau, chợ búa ở đây rất sầm uất. Từ đời Lý Trần chợ Cầu Nôm đã nổi tiếng là nơi tiêu thụ những đồ đồng và mua phế liệu các nơi khác đưa về để đúc các sản phẩm mới: chuông, đỉnh, mâm, nồi… Câu nói “đồng nát thì về Cầu Nôm” có từ đấy. Đến thời Lê nhà nước trưng tập dân năm làng: Mé, Rền, Rí thượng, Rí hạ và Nôm thành lập trường đúc tiền và đồ đồng bên bờ hồ Trúc Bạch, kinh đô Thăng Long. Trường đúc đó là của dân Ngũ Xã, cũng từ đó Ngũ Xã trở thành tên làng. Dân làng rước bài vị Dương Không Lộ và hai chú tiểu Phạm Quốc Tài, Trần Lạc thờ làm tổ nghề tại đình phố Ngũ Xã, Hà Nội ngày nay.

Nguyễn Công Truyền, tổ nghề gò đồng Đại Bái

Ông là người làng Đại Bái (còn gọi là Bưởi), một làng nhỏ thuộc huyện Gia Lương, Hà Bắc. Đây là một làng cổ gần Lãng Ngâm thuộc di chỉ văn hỏa Đông Sơn có niên đại cuối thế kỷ 3 đầu thế kỷ 2 trước Công Nguyên. Đại Bái nổi tiếng là một trung tâm đồng, nhưng là gò chứ không phải đúc đồng, v ề hành trạng của Nguyễn Công Truyền có nhiều thuyết khác nhau. Căn cứ theo thần phả và sắc phong ông sinh năm 989 mất năm 1069, con ông bà Nguyễn Công Tiến. Năm lên 6 tuổi ông đã theo cha mẹ vào sống ở Thanh Hóa. Lớn lên nhập quân ngũ, 25 tuổi làm quan Đô úy dưới triều Lý, được phong chức Điện tiền tướng quân. Năm 1048 vì cha mất ông xin từ quan về Thanh Hóa lo việc tang, rồi đưa mẹ về quê và từ đó tìm tòi sáng tạo ra nghề gò đồng.

Theo “Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí” Nguyễn Công Truyền lại làm quan Hiệu úy đời Lê. Thời Hồng Đức, ông đi theo đoàn sứ bộ sang Trung Quốc trở về được phong chức Phấn lực tướng quân. Thời gian đi sứ ông đã quan sát và tìm hiểu về nghề đồng, để rồi trở về sáng chế ra một nghề mới là gò đồng. Dân làng Đại Bái tôn ông làm tổ nghề và dựng đình thờ ông. Hiện ở quê hương vẫn còn lăng mộ ông. Dân làng Đại Bái đi làm ăn mọi nơi và ở đâu họ cũng dựng đền thờ vọng tổ nghề, như ở Đại Bái huyện Đông Sơn, Thanh H óa, Đại Bái ( H u ế ) …

Gần đây chúng tôi mới phát hiện được một tờ trát của Tổng đốc Ninh Thái, trao cho phó cà Nguyễn Văn Thạc cầm đầu m ột toán thợ gò đồng x ã Đại Bái huyện G ia Bình, gồm 23 người với đầy đủ đồ nghề vào kinh đô Huế để phục vụ vào ngày mùng 4 tháng 2 niên hiệu Đồng Khánh thứ 3 (1888). Chắc rằng những người thợ Đại Bái Bắc Ninh, đã sinh cơ lập nghiệp ở chốn kinh đô thơ mộng – xứ Huế, nhưng luôn hướng về quê về nghề tổ nên đã lấy tên Đại Bái đặt tên cho nơi ở của mình.

Những vị hậu tiên sư tiếp bước Nguyễn Công Truyền

Cả 4 xóm của Đại Bái đều thờ Nguyễn Công Truyền là tổ nghề chung của cả làng. Nhưng ờ mỗi xóm lại sản xuất riêng từng mặt hàng nên dân chúng lại thờ thêm một vị hậu tiên sư đó là những người tiếp bước Nguyễn Công Truyền, chuyên môn hóa và lập ra những phường riêng. Tài liệu không ghi rõ sự tích các vị mà chỉ biết tên như sau:

– PHẠM NGỌC THANH người xóm Tây, hậu tiên sư ngành đánh mâm.


– NGUYỄN VIẾT LAI, v ũ VIẾT THÁI ở xóm ngoài, hậu tiên sư ngành đánh nồi.

– NGUYỄN XUÂN NGHĨA, NGUYÊN CÔNG TÂM xóm giữa, hậu tiên sư ngành đánh ấm.

– Xóm Sôn (là xóm mới thành lập) chuyên ngành đánh chậu, không ghi tên vị hậu tiên sự.

Nguyễn Công Nghệ, tổ nghề đúc đồng làng Vó

Tương truyền Nguyễn Công Nghệ là người làng Vó, tên chữ là Quảng Bố nay thuộc xã Quảng Phú huyện Gia Lương, Bắc Ninh. Không biết ông sinh ngày tháng năm nào, tuy nhà nghèo nhưng nhờ đức thông minh và tính cần cù chăm chi, năm 18 tuổi ông thi đỗ và được giữ một chức trong bộ công của triều đình. Những lần về thăm quê ông thấy dân làng rất vất vả tối ngày mà cuộc sống vẫn đói nghèo, suy nghĩ thấy cần phải học lấy một nghề để về dạy cho dân, ông đã chọn nghề đúc đồng. Khi đã thạo nghề Nguyễn Công Nghệ từ quan trở về dạy dân dựng lò lập nghiệp, ngõ hầu đen lại chút ơn nghĩa cho xóm làng.

Không may ông qua đời vào ngày 23 tháng 8 năm Kỷ Mùi lúc chỉ mới 36 tuổi. Dân làng mai táng ông ở bãi Rầu (chỗ lăng hiện nay) và lấy ngày 23 tháng 8 âm lịch là ngày giỗ tổ nghề. Trong tâm thức của mỗi người làng Vó, lúc nào cũng có một niềm tin rằng họ có một vị tổ nghề bằng xương bằng thịt với đầy đủ đức tính tốt đẹp. Rằng sở dĩ triều đình không cấp bằng sắc cho Nguyễn Công Nghệ vì ông đã tự ý bỏ quan về dạy dân hành nghề. Rằng ông mất sớm nên có tên hiệu là Trực Nghệ, Rằng ông chưa lập gia đình nên không có gia phả để lại về sau…

Nghề đúc đồng ở nước ta có từ rất lâu, nhưng Nguyễn Công Nghệ là người đầu tiên mang nghề đúc đồng về truyền cho dân làng Vó vì thế dân làng nhớ ơn và lập đình thờ ông.

Nghề đúc đồng
Nghề đúc đồng

Nguyễn Văn Đào

Hiện nay ở cô đô Huế còn lưu lại được nhiều đồ đồng quý giá. Hai chiếc vạc lớn đúc vào năm 1660 và 1662 để ở nhà Tả Vu, Hữu Vu. Chuông lớn ở chùa Thiên Mụ đúc nắm 1710. Chín khẩu thần công đúc năm Gia Long (1816) và cửu đỉnh mỗi chiếc nặng từ 30 đến 43 tạ đồng đúc năm Minh Mệnh 16 (1835). Đây là thành tựu của những người thợ đúc đồng ở phường Dương Xuân huyện Hương Thủy tây nam thành phố Huế. Họ đều là những người từ miền Bắc vào làm ăn sinh sống và lập thành phường hội. Mọi người tôn ông Nguyễn Văn Đào làm tổ nghề, hàng năm tổ chức giỗ vào ngày 1,2,3 tháng 7 âm lịch.

Vũ Đạo

Làng Chè tên chữ là Trà Đông, thuộc huyện Đông Sơn vốn là một trung tâm đúc đồng lâu đời ở tỉnh Thanh. Dân gian ở đây có câu “Đất họ Lê nghề họ Vũ” Vũ ở đây là nói đến ông Vũ Đạo người đã đi khắp thiên hạ để hành nghề.

Đến đây thấy đất làm khuôn tốt ông mới dừng lại day dân cách thức đúc đồng. Nhớ ơn ông dân chúng lập đền thờ phụng và tôn ông làm tổ nghề đúc kẻ Chè.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN