Xóm chàm xã Thái Hiệp Thạnh qua phong tục tập quán cổ truyền

Tìm hiểu nguồn gốc và nếp sống hiện tại của người Chàm Tây Ninh, chúng tôi xin mời quí du khách cùng đến nơi ngoạn cảnh và xem xét.

Xóm Chàm, hay Chiêm Thành, còn được gọi là “Phồn Chàm” ở ấp Thái Vĩnh Đông, xã Thái Hiệp Thạnh, từ chợ Tây Ninh lên độ 1 cây số ngàn đó là một di tích dân thiểu số còn sót lại sau cuộc Nam tiến hào hùng của dân tộc Việt.

Khỏi rạp hát bóng, cây xăng đi lên một đổi, du khách quẹo mặt theo một con đường đất, vô 100 thước là đến nơi. Giáo đường Hồi Giáo xây gạch, quét vôi trắng cửa vòng cung và bốn tháp nhỏ liền bốn góc giáo đường, phô trương vẻ trang nghiêm giữa đám dừa thốt nốt xinh đẹp, cạnh bên có ngôi trường tiểu học cộng đồng. Đây là một xóm riêng biệt cửa người Chàm với vài trăm nóc nhà ngói lá xen lẫn chung quanh. Một giáo đường nhỏ cất theo kiểu ở thánh địa La Mét (La Mecque) Ấn Độ, chớ không phải như các tháp Chàm cổ kính ờ vùng Phan Rang, Bình Định …

Trong chòm thốt nốt, kế bên giáo đường, có dựng lên nhiều căn nhà sàn lợp lá, trên để người ở, dưới nuôi trâu bò. Đây là di tích dân Chiêm Thành, đã có một thời vàng son rực rỡ vái Chế Mân, Chế Bồng Nga…

Họ được gọi là người Chiêm, người Chàm, người Hời. Thi sĩ Chế Lan Viên đã viết về người Hời như sau:

Quay về non nước giống dân Hời …

Nỗi buồn thương nhớ giống dân Hời …

Chàm hay Chàm Ba (Campa) là tên thật đẹp, có nghĩa là “Cây bông sứ”, hay “Cây hoa dại”, gọi là Michelia Kampaka.

Người ta gọi người Hời, chắc có lẽ vì họ theo Hồi Giáo. Có người Chàm theo phái Ca-Phia (Kaphir hay Kafía) không ăn thịt bò và thiêu xác chết. Còn người Chàm Tây Ninh theo Hồi Giáo phái Ba Ni (Bani) không ăn thịt heo và chôn xác chết. Xưa nay, ông “Xa Mít” người lãnh đạo của xóm Chàm hay về La Mét (La Mecque), Thánh Địa ở Arabie để chiêm bái.

Du khách đừng hỏi người Chàm về gốc tích của họ, về việc phiêu lưu của dân Chàm, ít khi quí vị hân hạnh được họ cho biết, chắc có lẽ không ai muốn nói đến sự suy tàn của dân tộc mình.

Vào nhà ta được họ chào đón tử tế, mời leo lên sàn trên bởi cái than cây thô sơ. Nhà không có bàn ghế, chủ khách đều ngồi trên ván lót. Họ bưng ra một tô trà nóng mời khách uống. Vào mùa thốt nốt trổ bông, họ sẽ đem ống tre đựng nước thốt nốt vừa mới hứng trên cây xuống, rót ra tô, mời chúng ta dùng. Hương vị thơm thơm, chua chua ngòn ngọt.

Trông đôi mắt trầm buồn của người Chàm, ta đọc được nét suy tàn của dân tộc.

Theo Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) cho hộ giữ lãnh địa từ sông Phan Rang trở vào Nam. Vào năm 1692, người Chàm nổi dậy, thống binh Nguyễn Hữu Cảnh vượt sông Phan Rang bắt họ thần phục ta. Có người Chàm chạy vào Chân Lạp (Nam Kỳ). Rồi theo kế hoạch “tầm thực” tầm ăn dâu, Nguyễn Cư Trinh dùng người Chàm đuổi Chân Lạp. Sau cơn nguy biến, người Chàm được định cư Ở Châu Đốc (Xóm Chà Châu Vang, Hồng Ngự) và ở Tây Ninh, gần núi Bà Đen.

Người Chàm ở Tây Ninh có liên hệ đến bước chân Nam tiến kiêu hùng của ta, nay họ cũng sống hòa với dân Việt, nhưng vẫn giữ được nét đặc biệt về phong tục tập quán Chàm.

Chiếc quan tài không đáy

Bên hành lang của giáo đường nói trên, còn đặt một chiếc hòm không đáy, đây là chiếc quan tài chung cho cả xóm, ai chết cũng dùng chiếc hòm này. Xác được tẩm liệm kỹ lưỡng, theo lối của dàng Nhu ta (theo Nho giáo): gói xác bên ngoài xong rồi mới để vào hòm. Chiếc hòm này không đáy, người ta để vào đáy một miếng ván. Khi hạ huyệt xong người Chàm đem chiếc quan tài ấy để bên hong giáo đường như cũ.


Hu vệt thường đào theo chiều Đông Tây, sâu khỏi đầu người. Dưới cùng của vách hướng Nam được khoét sâu vô, vừa đủ để tử thi vào đấy, mặt hướng về Nam, đầu phía Tây, chân phía đông. Như thế tử thi ván nầy phải bằng cây mau mục. Khi xuống đất, người ta không bao giờ đứng ngay trên mình tử thi. Người Chàm không có tục lệ cải táng.

Để tìm hiểu qua tập tục của người Chàm chúng tôi đi sâu vào tập quán Chàm với những nhận xét như sau:

Ba nhóm người Chàm

Người Chàm tại đây chia làm 3 nhóm:

-Nhóm của ông Cả u Him, sống lâu năm tại đây có đầu óc chia rẽ kỳ thị người kinh.

-Nhóm người thứ hai từ các rừng núi mới qui tụ về trong thời kỳ chiến tranh nầy.

-Nhóm thứ ba thuộc thành phần tiến bộ họ ở các nơi như Sài Gòn, Châu Đốc, Phan Rang mới về ngụ tại đây.

Mặc dầu ba phe có phần cách biệt nhưng tập tục của họ không có gì khác nhau, nếu mới nhìn thoáng qua không sao hiểu nổi.

Vì họ đều có một tập tục cổ truyền, theo chế độ mẫu hệ (trai phải ở rể cho nhà gái) trai được quyền đa thê.

Họ theo đạo Hồi giáo, chùa không thờ phượng chi cả chỉ tôn trọng thần linh là trời Phật. Họ không ăn thịt heo, không nuôi heo và rất sợ heo.

Con cái dòng họ người Chàm Tây Ninh chỉ luẩn quẩn có 12 tên giống nhau. Trai thường đặt tên Số, Ló..gái thì Aphe, Tixà…

Tập tục cưới gả của người Chàm

Khi trai gái đến tuổi trưởng thành, đồng bào thiểu số thuộc sắc tộc Chàm cũng tổ chức cưới hỏi đàng hoàng. Đám cưới của họ cũng được tổ chức hai ngày, ngày đầu là ngày nhóm họ. Ngày này tất cả bà con đều nghỉ việc để tụ họp lại làm bò, gà vịt để ăn uống. Qua ngày hôm sau là ngày “Đưa rể”. Các người dự vào cuộc đưa rể, họ chưng diện kẻng theo lối y phục cổ truyền của họ. Số người nầy gồm có: Bà già, đàn ông và trai tráng, đặc biệt không có phụ nữ. Đi đầu cuộc đưa rể là một ông lão tay dẫn chú rể. Còn chú rể bị dẫn đi sau, không cười, không nói chân bước đi lờ đờ trông tựa như một ông lão dẫn một người mù đi trên đường lộ. Theo sau chàng rể là các bà lão cùng đàn trai trẻ. Các chú trai trẻ nầy theo sau vừa đi vừa múa hát từ các nhà đàng trai cho đến tận nhà đàng gái y như dân “Khờ me” hát “Á khom” trong ngày lễ Miên.

Khi họ đàng trai và chú rể đến, phía đàng gái hốt muối gạo rải tơi bời vào họ đàng trai cũng như các Ông thầy pháp của ta dùng muối gạo rải tà ma.

Mặc dầu bị trận muối gạo rải tơi bời nhưng các chàng trai cố sức khiêng chàng rể lên tận trên sàn nhà, đoạn lấy nước dừa rửa chân cho chàng rể đến bỏ trên giường của cô dâu họ mới ra về. Trời khi muối gạo cứ tiếp tục rải. Chàng rể tại giường cô dâu, anh ta mới đưa tay lên đầu gỡ cái hoa mà cò đã cài sẵn trước độ đưa lên cho mọi người xem. Lúc đó tấm màn của căn phòng cũng từ từ hạ xuống, chàng rể và cô dâu ở luôn trong ấy ba ngày mới được ra ngoài.

Thế là chấm dứt lễ cưới.

Lễ cúng của dân tộc Chàm.

Dân Chàm cũng tổ chức các lễ cúng vào những ngày Tết “Hardgi” của họ, sau một thời gian thọ chay 30 ngày. Họ ăn chay bằng cách nhịn đói ban ngày mà chỉ được phép ăn về đêm khi gà bắt đầu vô chuồng ngủ.


Đồ cúng thường là trái cây, đèn, nếu nhà nào khá giả thì tổ chức cúng bằng bò hoặc trâu sống. Trâu bò được cúng phải con vật thật tốt và mập mạp.

Con vật bị tế sống được trói lại kỹ để một nơi nào đó, xong lấy vải trắng phủ kín con khốn khổ và vô phúc ấy lại. Trong lúc đó mọi người ở trong đạo đứng xung quanh con vật, họ cầm dao rựa, mác chuẩn bị xẻ thịt con vật sắp chết ấy.

Trước khi chết, con vật được nghe ông thầy dọc một hồi kinh và tất cả mọi người có mặt đứng im lặng để chiêm ngưỡng. Con vật bị cực hình đang nghe bản án tử hình với đôi mắt trào lệ thật đáng thương vô cùng.

Sau một hồi kinh chấm dứt, ông thầy một tay cầm dao một tay kéo lấy lỗ tai con vật xuống do cần cổ, tới đâu là con dao được cắt đến đấy.

Ông thầy “Chàm” cũng là đao phủ thủ miệng đọc kinh tay khứa cổ con vật: con vật cố vùng vẫy trên vũng máu cho đến khi rống lên một tiếng để từ giã cuộc sống trong kiếp tôi mọi cho loài người.

Khi con vật đã chết hẳn, mọi người đứng chung quanh mới xúm vô giành giựt lẻo da lóc thịt con vật để đem về nhà làm món ăn sau khi gia chủ đã lấy một phần rồi.

Họ nói có làm như vậy con vật chết xuống âm phủ mới đầu thay được.

Tục lệ cúng vật sống này, theo người Chàm cho biết nó được xuất xứ từ Tây phương mà người Pháp gọi là Baltique còn người Chàm gọi theo tục lệ “Birahim”.

Một vài cổ truyền của vị thánh

Tục truyền ngày xưa ở một làng Hồi giáo thuộc vùng Baltique có một ông thánh Birahim được mọi người sùng kính. Một hôm ngày được vị thần linh báo mộng cho biết: “Nếu muốn cứu nước, cứu dân ngài thoát khỏi cảnh lầm than chết chóc điêu tàn thì ngài phải tự tay ngài cắt cổ đứa con trai duy nhất của ngài để cứu dân độ thế”.

Sau cơn ác mộng, ngài mới cầu nguyện xin đức Thần Linh để thay thế bằng một con vật thật tốt.

Con vật cúng bị cắt cổ chết là để chết thế cho chúng sinh nhân loại vậy.

Tập tục của người Chàm còn rất nhiều, ai có lân la gần gũi hoặc chung sống với họ mới tìm hiểu hết được. Cũng như về môn vũ bộ của các cô gái Chàm, nghề điêu khắc đã vang bóng một thời trong thuở xa xưa..

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945- 1954), làng Chàm ở Tây Ninh củng bị thiêu rụi mấy lần vì chiến cuộc nhưng những người Chàm sống ở đây cố tranh đấu bám lấy mảnh đất thân yêu còn sót lại của tổ tiên họ. Đời sống sinh hoạt quanh năm làm rẫy, làm củi, lượm chai, nuôi trâu bò, ở ngoài trời vật lộn với thiên nhiên.

Họ luôn lúc nào cũng nuôi một hoài bão đòi quyền tự trị ở xóm Chàm, nhưng xóm Chàm rất nhỏ bé, dân số Chàm quá ít ỏi đa số không chịu cầu tiến nên đành chịu lép trước sự đoàn kết mạnh mẽ của khối người Việt.

Dụ số 52 ngày 29-8-1950 buộc mọi công dân Việt Nam đều phải mang tên có âm thanh Việt Nam, mà hầu hết người Chàm đều có tên thánh. Tuy họ đổi ra tên Việt, nhưng họ vẫn gọi nhau bằng tên cũ. Rồi đây, dân Chàm sẽ đi về đâu, chúng ta phải chờ sự trả lời của lịch sử. Dân Chàm sẽ đồng hóa với dân Việt hay không? Việc ấy cũng phải đợi thời gian.

Nhìn xóm Chàm Tây Ninh, chúng ta mới thấy hãnh diện với sức sống hào hùng của dân tộc Việt trên đường Nam tiến vẻ vang.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN