Kinh tế – xã hội Nam Bộ

Đồng bằng Nam Bộ có diện tích gấp đôi đồng bằng Bắc Bộ (3,2 triệu ha/1,6 triệu ha). Thời tiết vùng này rõ ràng điều hòa hơn, nhịp hai mùa cũng ổn định hơn.

Xưa kia đất rộng người thưa, trồng một vụ “xài” suốt năm, trong khi ở miền Bắc đời đời vẫn gieo neo với hai vụ chiêm mùa. Nhiều nơi làm ruộng theo lối quảng canh tài tử, chỉ phạt cỏ rồi xạ. Có nơi lại trồng một vụ ăn hai, ba vụ “chét”. Ấy vậy mà Nam Bộ vẫn nổi danh là: vựa lúa, chuồng heo, xạp cá. Dân Nam Bộ hiếu khách, rộng bụng, ít lo xa có lẽ cũng vì thế. Nhìn chung, kinh tế đồng hằng Nam Bộ trù phú, nồng dân không bị gò bó quá vào cơ chế phong kiến lạc hậu, việc làm nhiều, sinh lợi lại nhanh và dễ (so với một số vùng…) kết hợp cùng một số lý do khác nữa mà ở nơi đây hội hè thường sôi nổi, giáo phái có lúc khá tràn lan…

Đồng bằng Nam Bộ
Đồng bằng Nam Bộ

Tất nhiên để tự cấp tự túc theo kiểu kinh tế tự nhiên thì cũng ít ai phải thiếu đói. Vì vậy lối làm ăn ấy đã có một thời dài tồn tại đó đây trên đất Nam Bộ…Nhưng cũng từ khá sớm, kinh tế hàng hóa đã từng bước hình thành ở khu vực này bởi nhiều nguyên nhân sâu xa. Trước hết, đó đã là “xu thế phát triển của lịch sử” nước ta mang tính chất tất yếu: từ thế kỷ 15, nhu cầu giao lưu trao đổi ngày càng phát triển mạnh, và đây là sự vận động “tự thân” của xã hội …Xu thế đó tác động vào người nông dân, họ bắt đầu có nhu cầu “bung ra” để trở thành người sản xuất hàng hóa, để tham gia vào luồng kinh tế thị trường”. Có lẽ “xu thế” đó phản ánh rõ nét nhất và trở thành hiện thực một cách nhanh chóng nhất chính là ở tại vùng đất mới Nam Bộ. Khác với phần còn lại của Việt Nam, ở Nam Bộ hầu như không có chế độ công điền công thổ. Quan hệ thuê mướn là phổ biến chứ không phải là lính canh nộp tô. Điền chủ Nam Bộ không đơn thuần thu gom của cải qua con đường tô tức, mà thường thuê mướn nhân công. Có nhà xưa kia mướn tới sáu, bảy mươi điền tô, được gọi một cách nhã nhặn là phường ở bạn. Điền chủ lại thường chắp nối với thị trường tư vật tư để sản xuất đến nông phẩm cần bán ra. Họ đi về, với tới cả các chợ gạo, chợ cá, chợ gia súc, chợ rau cải…Họ có phương tiện chuyên chở, có nhà đóng thuyền to và mướn cả chục bạn chèo. Mặt khác, ở Nam Bộ số nông dân có ruộng tư đủ làm khá đông đảo. Đó là một cơ sở để kinh tế “miệt vườn” nảy nở tại đây. Và, cũng vì kiểu dạng kinh tế này mà ngơi làng xóm Nam Bộ đã phải biến dạng đi nhiều so với ngôi làng cổ truyền, cổ điển ở miền Bắc. Làng ở đây mở ra mặt lộ, mặt kênh, mặt sông. Nó nối tiếp nhau dài theo con lộ, con kênh, con sông trên nhiều cây số, ít có kiểu chòm xóm thu mình giữa đồng như những ốc đảo. Một “nền” kinh tế thương nghiệp lấy sông rạch làm đường ngày càng phát triển ở Nam Bộ, Sông rạch nối thị tứ với những vùng sâu, vùng xa đã làm cho việc khai khẩn đất nông nghiệp được đẩy nhanh đồng thời với việc hàng hóa trao đổi ngày càng nhiều, thị trưởng mở rộng dần với tới tận địa bàn của các điền chủ và nông dân làm cho nông thôn Nam Bộ không đóng kín như làng quê xứ Bắc. Dân chúng tiếp xúc được những dịch vụ thương nghiệp (mà ở đây phải nhấn mạnh tới vai trò của người Hoa), thậm chí còn có cơ hội dấn thân vào chính dịch vụ sinh lợi này. Tất cả đã tạo ra những chuyển động mới ngày càng mạnh mẽ trên vùng đất Nam Bộ. Người Việt xưa miệng nói “Phi thương bất phú” nhưng mấy ai dám bỏ làng đi buôn, bỏ ruộng đị làm “chú lái”! Nhưng ở Nam Bộ, đua theo người Hoa, nhiều nhà nông vừa làm ruộng vừa tiếp cận thị trường, vừa sản xuất vừa kinh doanh. Thật ra chỉ ở Nam Bộ, nông dân mới có nhiều cơ hội để quyết chí làm giàu theo kiểu như thế:

Đạo nào bằng đạo đi buôn,


Xuống biển lên nguồn, gạo chợ nước sông.

Sự phân công lao động mới trong nông nghiệp từ độc canh cây lúa chuyển sang chuyên canh với sự xuất hiện của nghề làm vườn cùng sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa…đã góp phần thúc đẩy quá trình giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội trong vùng ngày một thêm năng động.

Kinh tế điền chủ ở nông thôn ngày càng phát triển kết hợp với kinh tế tiểu chủ ở thị tứ cũng ngày càng phổ biến…lại càng đẩy nhanh hơn nữa quan hệ sản xuất hàng hóa hai chiều. Tiếp đến khi người Pháp thực thi việc đầu tư vốn, kỹ thuật, tổ chức khai thác nhân, vật lực theo giá rẻ…, quan hệ tư bản ngày càng mở rộng trong những điều kiện kinh doanh và dịch vụ xuất nhập khẩu ngày càng bành trướng nhiều hơn…Tất cả đã góp phần hình thành thêm những mối quan hệ mới, những lối sống mới…

Tóm lại trên thực tế từ khi được khai mở cho đến nay, Nam Bộ với vị trí, điều kiện về sinh thái tự nhiên, kinh tế, xã hội đặc thù, đã là nơi gặp gỡ, giao lưu của nhiều lớp, nhiều nền văn hóa khác nhau. Ảnh hưởng của những lớp văn hóa cổ truyền tuy có làm cho sắc diện của mỗi nền văn hóa gặp gỡ trên đất này đều có những biến dị to nhỏ, song nhìn chung ở nơi đây (cũng như trên cả nước) chưa có nền văn hóa nào vượt khỏi giới hạn cố hữu phong kiến, nông nghiệp cổ truyền mãi cho đến khi sự mở rộng giao tiếp văn hóa với phương Tây, tương ứng với quá trình mở rộng sự khai thác thuộc địa trong thời kỳ thực dân củ của Pháp và thực dân mới (đế quốc) của Mỹ. Nam Bộ (sau đó là cả nước) bắt đầu chính thức bước vào ngưởng cửa của xã hội hiện đại với sự phát triển theo chiều hướng công nghiệp hóa, đô thị hóa ngày càng nhanh, ngày càng mạnh bất đầu từ đó. Cũng từ lúc đó văn hóa cổ truyền Việt Nam nói chung, đặc biệt là văn hóa ở vùng Nam Bộ nói riêng – vùng có những biến động đổi mới sớm và sâu sắc nhất – bằng con đường tự phát hay tự giác đã từng bước tạo nên một sự phát triển thích ứng, đồng bộ và chủ động trước các yêu cầu của xã hội mới. Rõ ràng, từ trước tới nay Nam Bộ vẫn được xem là vùng đô thị hóa, và quốc tế hóa mạnh nhất nước, là nơi nền vãn minh kỹ thuật phương Tây hội nhập phong phú, là “túi chứa” những vận động nhanh chóng của xã hội kinh tế thị trường – hàng hóa v.v… Nói chung đó là những ”nhân tố mới” mang tính động lực và có nhiều ý nghĩa cả về kinh tế lẫn văn hóa, đồng thời cũng có thể đó là những thử thách đầy phức tạp đối với quá trình phát triển của Nam Bộ (cũng như của cả đất nước Việt Nam) trong giai đoạn lịch sử từ xã hội truyền thống tiến lên xã hội hiện đại. Những nhân tố ấy chắc chắn đều có tác động nhất định đến các mặt đòi sống văn hóa – xã hội của Nam Bộ, trong đó có sinh hoạt tín ngưỡng và Lễ hội dân gian của người Việt với các khía cạnh giao tiếp Văn hóa dân tộc đặc thù của nó.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN