Lễ hội Bà Đen – Linh Sơn Thánh Mẫu (Núi Bà Đen, Tây Ninh)

Núi Bà Đen hay Núi Điện Bà, còn có tên chữ là Vân Sơn hay Linh Sơn, nằm cách thị xã Tây Ninh chừng 11 kilômét,  là ngọn núi cao nhất Nam Bộ (khoảng gần 900 mét). Trên nhiều tầng khác nhau từ chân núi lên, núi Bà Đen có một hệ thống quần thể công trình kiến trúc gồm điện, chùa, miếu, tháp và hang động khá phức tạp với nội dưng thờ phụng phần lớn liên quan tín ngưỡng Phật giáo như Thích Ca, A Di Đà, Di Lặc, Đạt Ma Sư Tổ, Chuẩn Đề, Thế Chí, Địa Tạng, La Hán v.v…Bên cạnh là các thần, thánh thuộc tín ngưỡng dân gian hoặc ảnh hưởng các tôn giáo khác như Quan Công, Tứ vị Sơn thần, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Ông Địa, Ông Tà, Tứ vị Thiên vương v.v… Đáng lưu ý là hệ thống các “Mẫu – Nữ thần” tập trung khá đông đảo như Cửu Thiên Huyên Nữ, Diêu Trì Kim Mẫu, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Địa Mẫu, Bà Chúa Xứ và có cả Cậu Tài, Cậu Quý, Cô Hồng, Cô Hạnh bên cạnh… Đặc biệt là Bà Quán Thế Âm với hơn mười pho tượng ở khắp các cơ sở tín ngưỡng tại đây (có nơi như Chùa Ông, tức Linh Sơn Tiên Thạch Tự có những 4 tượng Quán Thế Âm…).

Linh Sơn Thánh Mẫu chủ trì Linh Sơn Tiên Thạch động
Linh Sơn Thánh Mẫu chủ trì Linh Sơn Tiên Thạch động

Trong hệ thống Phật, Tiên, Thánh (gồm cả các “Mẫu – Nữ thần”) nói trên, làm điểm tựa chính cho các sinh hoạt tín ngưỡng gắn với núi Điện Bà, trung tâm vẫn là Bà Đen – Linh Sơn Thánh Mẫu với nơi thờ chính tại Điện Bà (cạnh chùa Ông – Linh Sơn Tiên Thạch Tự), vị trí nằm lưng chừng núi ờ độ cao khoảng 400 mét.

Theo truyền thuyết, Bà Đen nguyên tên thật là Đênh, con gái của một viên quan địa phương, năm 13 tuổi theo học đạo với một nhà sư người Hoa. Sau đó vì có ý nguyện xuất gia, nên khi con trai tri huyện Trảng Bàng (một vùng thuộc Tây Ninh) cầu hôn, nàng Đênh đã bỏ nhà trốn lên núi và bị cọp ăn thịt. Một phần thi thể còn lại của nàng được mai táng trên núi (lúc đó là ngày 5 tháng 5 âm lịch, sau này thành ngày giỗ chính của “Bà”) và được lập miếu thờ vì “Bà trở nên rất linh thiêng”…

Một dị bản khác kể rằng Bà tên thật là Lý Thị Thiên Hương, quê tại Trảng Bàng, với đặc điểm nước da ngăm đen nhưng rất có duyên và mộ đạo Phật, thường lên lễ chùa tại Núi Một (tên của núi Điện Bà lúc ấy). Một hôm khi đang trên đường đi lễ chùa trên núi, Thiên Hương bị con trai tri huyện Trảng Bàng cùng gia nhân của hắn bức hiếp, nàng đã nhảy xuống núi tuẫn tiết và xác được sư trụ trì chùa chôn cất trên núi (vào ngày 5 tháng 5 âm lịch). Rồi vì linh thiêng, nàng Lý Thị Thiên Hương được người ta lập miếu thờ và trân trọng gọi là “Bà Đen”. Tên núi củng thay đổi từ đó…

Người ta còn truyền tụng rằng, khi bị quân Tây Sơn truy kích từ Gia Định và phải chạy ngược theo sông Vàm cỏ qua Tây Ninh với ý định trốn sang Xiêm, Nguyễn Ánh đã có ghé núi Bà Đen tá túc và cầu xin Bà phù hộ cho “tai qua nạn khỏi”…Sau này khi đã lên ngôi, vua Gia Long sắc phong Bà Đen thành Linh Sơn Thánh Mẫu, đồng thời truyền lệnh đúc tượng đồng cho Bà và lập điện thờ khang trang hơn.

Ngoài ra, nhìn ở khía cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc, người ta còn thấy rằng tín ngưỡng “Bà Đen”, tức Khmaur, vốn gốc là Nữ thần giữ chùa của người Khmer, xa hơn đó là nữ thần Kali của Bà La Môn được người Khmer tiếp thu. Phải chăng từ câu chuyện có thật của một “Nàng Đênh” (hoặc “Lý Thị Thiên Hương”) nào đó kết hợp sự tác động bởi chế độ phong kiến triều Nguyễn mà tín ngưỡng thờ Mẫu ”Khmaur” của người Khmer bản địa đã trở thành tín ngưỡng thờ Mẫu “Bà Đen – Linh Sơn Thánh Mẫu” của người Việt? Rõ ràng sau này Linh Sơn Thánh Mẫu được thờ tại khá nhiều ngôi chùa Phật giáo của người Việt ở một số địa phương trên đất Nam Bộ với tư thế như là một vị Bồ Tát hộ trì ngôi Tam Bảo! Một chi tiết khác đáng chú ý là có lúc có nơi người ta còn cho rằng Linh Sơn Thánh Mẫu chính là Lê Sơn Thánh Mẫu (một nữ thần của Lão giáo và từng là sư phụ của Phàn Lê Huê, một nhân vật trong truyện kể dân gian Trung Quốc), mà “Lê Sơn” cũng có nghĩa là “Núi Đen”. Chưa kể nhiều nơi người ta còn nhập cả bà Thiên Yana (hoặc Bà Chúa Xứ) bằng cách đem hai con của Bà (Cậu Tài, Cậu Quý) thờ chung với Lính Sơn Thánh Mẫu, và trong nghi thức cúng Bà từng có diễn ra tiết tục Hát (Múa) bóng rỗi…

Như vậy, “Bà Đen – Linh Sơn Thánh Mẫu” là một “Mẫu” mang nhiều nét khá đặc biệt trong tín ngưỡng thờ “Mẫu – Nữ thần” của người Việt ở Nam Bộ nói chung, ít nhất người ta cũng thấy rằng Bà vừa là Mẫu – Nữ thần vừa là Tiên nữ vừa là Bồ Tát!…

Hằng năm, lễ hội lớn nhất tại Núi Bà Đen mà người ta thường gọi là “Ngày Vía Bà” vẫn là ngày 5, 6 tháng 5 âm lịch với nội dung chủ yếu gồm:


0 giờ đêm 4 rạng 5 tháng 5 âm lịch, Lễ Tắm Bà diễn ra tại Điện Bà (được cách ly với bên ngoài bằng một tấm màn tạm che kín) do một số phụ nữ lớn tuổi thực hiện theo các nghi thức: Thắp hương xin phép Bà, lau Bà (bằng nước dừa nấu với hoa, lá và nước hoa), thay trang phục mới cho Bà (do bá tánh dâng cúng), lễ Bà. Sau đó, nhang đèn được thắp sáng lên và cửa đền được mở rộng để bắt đầu đón khách thập phương đến viếng Bà. Lễ vật cúng Bà lúc này chủ yếu là hương, đăng, trà, quả; đôi khi có cả rượu, bánh, vàng mã v.v…

Ngày 5 tháng 5 âm lịch, Ngày Vía Bà chính thức:

Sáng (khoảng 6 giờ), Lễ “Trình Thập Cúng” với mười món lễ vật, gồm hương, đèn, hoa, trà, quế, rượu, bánh ếch chay, cặp dây chuyền, xuyến, bông tai (ba món sau cùng là đồ mã) do các vị sư Phật giáo (áo vàng) kết hợp với Ban tế lễ (áo thụng xanh, thắt đai đen, mang hài và đội mũ tế…) thực hiện trong tiếng chiêng, trống, tiếng nhạc lễ cổ truyền Nam Bộ, sau đó là tiếng kinh kệ vang rền…

Tối, chương trình Hát múa bóng rỗi (Múa mâm vàng, Múa mâm bạc, Múa đồ chơi…),Hát chặp Địa Nàng với nền dàn nhạc dân tộc…

Ngày 6 tháng 5 âm lịch: Các chương trình theo nghi lễ Phật giáo như tụng kinh Sám hối, Cúng Ngọ, Lễ thí thực cô hồn v.v…

(Trước kia còn có chương trình Hát Bội vào các ngày 7 và 8 tháng 5 âm lịch).

Ngoài nội dung sinh hoạt tín ngưởng ton giáo, đông đảo khách thập phương đến vói Lễ hội Bà Đen -Lonh Sơn Thánh Mẫu còn có động cơ khác đó là đi du lịch (leo núi, vãng cảnh chùa v.v,..). Tương tự như vậy, tại đây dịp Tết Nguyên Đán kéo dài đến Rằm Tháng Giêng cũng là những ngày có đông đảo người đến du xuân, vãng cảnh núi hoặc xin lộc Bà, thăm chùa v.v… Dựa vào đó, sau năm 1975, chính quyền địa phương chủ động tổ chức những ngày “Hội Xuân Núi Bà” bằng cách kết hợp các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian nói trên với tổ chức hội chợ, triển lãm và những chương trình lễ hội mới kỷ niệm những sự kiện và những chiến sĩ cách mạng đã gắn bó và hy sinh tại núi Bà Đen trong các giai đoạn kháng chiến trước đây.

Nhìn chung, Lễ hội Bà Đen – Linh Sơn Thánh Mẫu (Tây Ninh) là một Lễ hội dân gian gắn bó với tín ngưỡng thờ một trong những “Mẫu” đặc biệt nhất của Nam Bộ. Từ một “Mẫu” nhân thần địa phương (Bà Đen, Tây Ninh) trở thành một “Mẫu” nhiên thần của cả vùng Nam Bộ (Linh Sơn Thánh Mẫu – Bà Mẹ linh thiêng của ngọn núi cao nhất Nam Bộ), hoặc từ bóng dáng một Bà Mẹ Khmer giữ chùa (Mẫu Khmaur) trở thành một nữ thần Việt (Bà Đen) với tính chất vừa là Phật Bà, vừa là Tiên nữ, vừa là Thánh Mẫu (Linh Sơn hoặc Lê Sơn Thánh Mẫu) và là điểm tựa chủ yếu cho sự hội tụ của cá một hệ thống Phật, Tiên, thánh dày đặc trên núi Bà Đen. Mặc dù xu hướng Phật giáo hóa ngày càng đậm nét trong mọi sinh hoạt ở nơi này, nhưng rõ ràng, đông đảo người hành hương về đây kể cả “Ngày Vía Bà” lúc “Hội Xuân” hoặc ngày thường, không phải chỉ là “đi tìm cõi Phật” mà còn là đến với một thế giới gồm đầy đủ cả Phật, Tiên và Thánh, Thần, trong đó Bà Đen – Linh Sơn Thánh Mẫu trở thành một “Mẫu” trung tâm làm biểu tượng trọn vẹn cho “thế giới” đó!



BÀI VIẾT LIÊN QUAN