Người Việt và các cộng đồng cư dân khác, những chủ thể của vùng văn hóa Nam Bộ

Hơn bất cứ nơi nào khác trên đất nước Việt Nam, dân số và dân cư Nam Bộ luôn biến động mạnh (chủ yếu theo hướng tăng cơ học) kể từ khi vùng đất này được hình thành khoảng ba thế kỷ qua. Nếu như vào năm sinh của thị tứ Sài Gòn ở cuối thế kỷ 17 (năm 1698), cả Gia Định mới có 4 vạn hộ với khoảng 200.000 người thì đến giữa thế kỷ 19, năm 1867, Nam Bộ đã có 1.204,278 người. Và, chỉ hơn một thế kỷ sau (tính từ năm 1867 đến ngày nay), Nam Bộ đã có hơn 20 triệu người, chiếm trên 30% dân số cả nước (số liệu điều tra năm 1989). Trong đó, người Việt chiếm tỉ lệ gần 90% và địa bàn cư trú phân bố rộng khắp mọi nơi, tập trưng cao nhất là ở khu vực đô thị, các lưu vực sông Đồng Nai, sông Tiền, sông Hậu…

Tỉ lệ dân số còn lại là của các dân tộc ít người, chủ yếu gồm:

cho lon tap trung dong nguoi hoa sinh song

Người Khmer, khoảng 1 triệu người và có mặt nhiều nơi trên địa bàn Nam Bộ nhưng đông nhất vẫn là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (đặc biệt là các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu…)

– Người Hoa, khoảng trên. 800.000 người sinh sống chủ yếu ở khắp các vủng thị tứ Nam Bộ và tập trung cao nhất là khu vực Chợ Lớn (thành phố Hồ Chí Minh).

Người Chăm, khoảng gần 20.000 người định cư tương đối tập trung ở một số nơi như An Giang, Thảnh phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh.

Người Stiêng, khoảng trên 50.000 người sống tập trung ở khu vực bắc Sông Bé cũ (nay chủ yếu thuộc tỉnh Bình Phước) và rải rác ở Đồng Nai, Tây Ninh.

Người Chơ-ro, khoảng 15.000 người chủ yếu ở Đồng Nai và Sông Bé cũ.

Người Mơ-nông (khoảng trên 5.000 người) và người Nùng (khoảng trên 2000 người) đều cư trú chủ yếu trên địa bàn tỉnh Sông Bé cũ.


Ngoài ra, còn nhiều dân tộc khác nửa (kể cả người nước ngoài) nhưng số lượng ít vả thường sống rải rác, xen kẽ trong các cộng đồng người đã kể trên, chủ yếu là khư vực người Việt…

Trên cái nền không gian địa – văn hóa Nam Bộ, bóng dáng của các sinh hoạt Văn hóa dân gian, trong đó có Lễ hội dân gian của người Việt nơi đây sẽ hiện lên với nhiều màu sắc đặc thù mà phía sau nó là những khuôn mặt sinh động của các cộng đồng dân cư, dân tộc với lịch sử hình thành, đặc điểm văn hóa, đời sống kinh tế v.v…tuy có nhiều nét riêng biệt nhưng đồng thời cũng có nhiều điểm gặp gỡ nhau trong quá trình giao lưu, cộng sự…cùng góp phần xây dựng vùng văn hóa Nam Bộ. Đặc biệt, những chủ thể quan trọng trực tiếp liên quan đến quá trình giao tiếp Văn hoa dân tộc trong các Lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ trước tiên phải kể đến các dân tộc Việt, Khmer, Chăm, Hoa là những cộng đồng người gần gũi nhau do tương đồng về trình độ kinh tế – văn hóa hoặc có những mối quan hệ văn hóa – lịch sử nhất định.

1/Những lớp cư dân Việt đầu tiên đến khai phá vùng Nam Bộ hầu hết đều là người từ Thuận – Quảng vào. Cha ông họ đã theo Nguyễn Hoàng bỏ quê (chủ yếu là Thanh Hoá) vào lập nghiệp ở phía nam Hoành Sơn. Nhưng chỉ năm, sáu thế hệ sau, tức là vào khoảng cuối thế kỷ 17, ở vùng đất ấy, ruộng đất đã lọt quá nhiều vào tay giới quan liêu địa chủ ăn theo sự lớn mạnh của nền hành chính nhà Chúa. Ngay cả vùng Bình Định, Phú Yên vào thời điểm này cũng chẳng còn bao nhiêu đất cho người nghèo, bởi lẽ quan lại quá đông: một xã có đến mười mấy tướng thần ăn trên ngồi trốc, điều mà Nguyễn Cư Trinh đã có lần tâu lên nên giảm đám người này, và đừng để mãi cái cảnh “một đàn dê mười con mà có đến chín đứa chăn dắt” (!). Vì sức ép kinh tế, những người lưu dân sẽ phải phiêu bạt đi trước vào vùng Nam Bộ như những đội khinh binh, để rồi đến lúc đất khai hoang đã sinh lợi, chính quyền nhà Chúa lại tính chuyện đưa sức mạnh quân đội và bộ máy hành chính quan liêu vào áp đặt việc quản trị. Cũng qua sử liệu, ta biết thành phần các lớp cư dân đi lập nghiệp, ngoài vài cự tộc, hầu hết là dân nghèo. Trước vùng đất mới, khó khăn đầy rẫy, họ đã phải chung lưng đấu cật hết lòng với nhau để sống còn, Họ cộng cảm với nhau trong tâm lý dấn thân vì chẳng ai còn đất cu để quay về nữa. Họ chung chân, chung tay cùng khai sơn phá thạch, họ lập chòm xóm kề cận nhau để dễ bề cưu mang nhau trong cái truyền thống làng ngàn xưa. Chính cái hoàn cảnh đó không thể không tạo nên những nét đặc thù của phong cách, tính khí người Nam Bộ, để rồi từ nhân cách cụ thể ấy sẽ xuất hiện những biểu hiện văn minh – văn hóa của những truyền thống đặc trưng vùng.

Như đã đề cập qua, dân cư Nam Bộ trải trăm năm đầu thời khai phá, là rất thưa. Trước cái hồng hoang nguyên thủy ấy, người ta phải hảo hớn mới hòng tồn tại và chiến thắng. Cái tác phong “Phá sơn lâm, đâm hà bá” của những người không sợ “hùm tha, sấu bắt” là có lý do lịch sử – xã hội đích thực. Và, “Ra đi gặp vịt cũng lùa, gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu” rõ ràng là thái độ dấn thân của những con người phiêu lưu đi tìm quê mới. Nhìn chung người ta thấy lối sống của dân Nam Bộ dân dã, tự nhiên, vô ưu (ít nhất cũng trong quan hệ so sánh với nông dân vùng Bắc Bộ). Họ hồn nhiên, “có thì cứ ăn hết rồi thỉ lại có”…, đó là những dấu vết khá đậm của một lối sống dân gian Nam Bộ, định hình từ trong cảnh sinh hoạt một thời kéo dài của mấy thế hệ khai hoang mở đất với những thuận lợi và không ít khó khăn trên vùng đất mới, khi đó họ phải đồng lòng, đồng sức, đồng minh cùng vật lộn với hoàn cảnh để kiếm miếng ăn mới, chỗ ở mới.

2/ Căn cứ vào các di chỉ khảo cổ đã phát hiện hơn năm thập kỷ qua, người ta thấy từ xa xưa (ít nhất là trước và sau Công nguyên), Nam Bộ từng là vùng đất có sự hiện diện của những cộng đồng người là thần dân thuộc các nhà nước Cổ, Trung Đại Đồng Nam Á xưa (Phù Nam, Thuỷ Chân Lạp…?). Có lẽ quy luật lịch sử phát triển tự phát trước kia làm cho các nhà nước ấy lần lượt suy tàn và có lẽ điều này cùng với hoàn cảnh địa lý khắc nghiệt (nhất là trong tình trạng sức sản xuất lúc ấy), Nam Bộ với những cộng đồng người bản địa ngày càng tàn tạ, thưa thớt, trở thành gần như là vùng đất hoang hóa kéo dài hàng trăm năm. Khi người Việt đặt chân đến khai phá vùng này, họ thấy có sự hiện diện của người Khmer, những hậu duệ của vương quốc Chân Lạp xưa kia còn lại hoặc mới di cư đến (?), nhưng đó chỉ là những cộng đồng người phân tán, sống rải rác chủ yếu trên những giồng đất ven sông. Cộng đồng ấy tiếp tục phát triển cùng với sự phát triển mới của Nam Bộ, nhưng vẫn luôn bảo lưu nét đặc thù văn hóa của mình: “…người Khmer mà trong truyền thuyết khởi nguyên là con cháu của dòng dõi chim thần Garuda có sức điều động lứa và sấm sét phối hợp cùng vị thống lĩnh các nguồn nước, mưa, sông, rạch của dòng dõi cá thần hay rắn thần Naga, đã có một lịch sử văn hóa, nhân chủng, tổ chức xã hội và chữ viết Pali mang ảnh hướng sâu sắc của nền văn hóa Ấn Độ cứng như sức sáng tạo phong phú của bán thân dân tộc này. Từ thế giới quan Phật giáo tiếu thừa và từ tư duy lưỡng nguyên người Khmer đã tạo nên một truyền thống văn hóa cá biệt với những kiến trúc chùa nguy nga với các mô tip Rìa hu, tượng tròn, tượng bốn mặt, chim thần, rắn thần, với các dạng thức phù điêu mang cá tính và phong cách riêng”. Dù sao, cuộc sống cộng cư hàng trăm năm qua giữa người Việt và Khmer vẫn làm cho hai nền văn hóa vốn có màu sắc khác nhau ấy ngày càng xen cài sâu sắc vào nhau và Lễ hội dân gian người Việt ở Nam Bộ chắc chắn có không ít những ảnh chiếu của tín ngưỡng, phong tục tập quán Khmer.

3/ Gần gũi với văn hóa Khmer là văn hóa Chăm, những nền văn hóa cùng chịu ảnh hưởng đậm nét văn hóa Ấn Độ truyền thống. Nhưng, trên đất Nam Bộ, người Chăm vẫn là người “đến sau”, gần như cùng lúc với người Việt, người Hoa. Người Chăm đến vùng đất này với tư cách là những thần dân phiêu tán của vương quốc Chăm Pa đang bị tan rã (vào cuối thế kỷ XVII), “Con đường phiêu bạt” của họ đến đất Nam Bộ gần như phải đi một đường vòng từ Nam Trung Bộ sang Campuchia rồi di chuyển về đồng bằng sông Cửu Long (chủ yếu tập trung trên địa bàn biên giới Việt Nam – Cam- puchia thuộc khu vực tỉnh An Giang…)và sau đó một bộ phận lại phân tán về sinh sống tại Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) cùng một vài nowi khác. “Con đường phiêu tán” ấy làm cho văn hóa của người Chăm ở Nam Bộ có những nét mới mẻ so vói vốn văn hóa truyền thống của người Chăm ở Nam Trung Bộ, đặc trưng quan trọng nhất là các ảnh hưởng của văn hóa Hồi giáo (Islam) thay vì chủ yếu là văn hóa Bà La Môn giáo trước kia. Như vậy, có thể hoặc gián tiếp ảnh hưởng bởi quá trình giao tiếp văn hóa Việt – Chăm trên bước đường của người Việt qua vùng đất miền Trung để vào Nam Bộ, hoặc là trực tiếp giao lưu trong quá trình cộng cư của người Chăm với người Việt ngay trên đất Nam Bộ: Bằng nhiều con đường mà văn hóa Chăm đã từng bước in dấu ấn khá rõ nét trong nhiều mặt đời sống văn hóa của người Việt ở Nam Bộ, trong đó có các sinh hoạt Lễ hội dân gian của họ.

4/ Tương tự người Chăm, bộ phận người Hoa đông đảo trên đất Nam Bộ ban đầu vốn là người “khách trú” với tư cách là thần dân con cháu vương triều nhà Minh mới vừa sụp đổ, sang xin tị nạn chính trị ở Việt Nam vì không chịu thần phục nhà Thanh đang “lên ngôi” ở Trung Quốc. Sau khi tìm thấy được chỗ “đất lành chim đậu” họ không trở về cố hương nữa. Với tâm trạng “cô nhi hải ngoại” (nhất là lúc đầu), họ mang theo và phát triển những tín ngưỡng, lễ hội thờ Bà Thiên Hậu, Quan Thánh Đế Quân, Ông Bổn v.v… để làm điểm tựa tinh thần mà cái chính vẫn làm tìm cách phát huy tinh thần cố kết cộng đồng và những thế mạnh trong tiềm lực bản thân để thích nghi với môi trường cuộc sống mới có thuận lợi nhưng cũng không ít thử thách.

Hàng vạn dân Hoa đến đây từ đầu thế kỷ XVII, được Chúa Nguyễn phân phối cho hưởng những vùng cư trú làm ăn đắc địa: Biên Hoà, Định Tường, Hà Tiên. Người Hoa giỏi nhiều nghề, nhưng cung rất thạo việc buôn, nên ở đâu có người Hoa dường như chỉ ít lâu sau là có chợ và thị tứ, Từ vài điểm tụ cư ban đầu sầm uất như Cũ Lao Phố (Biên Hoà, Đồng Nai), Mỹ Tho (Tiền Giang), Hà Tiên… người Hoa tản ra ở nhiều chỗ, tạo nên nhiều tụ điểm mới mà Chợ Lớn, Sài Gòn, Gia Định là tập trung hơn cả. Ở Hà Tiên, lúc Mạc Phủ mới đến, trời đất còn hoang vu, nhưng chỉ đời sau, tức đời Mạc Thiên Tứ, địa khu này đã khang trang trên bến dưới thuyền.

Có thể nói, một tác động lớn của quá trình giao tiếp, quan hệ với người Hoa của cư dân Nam Bộ là việc buôn, là đầu óc kinh doanh, là tinh thần thực tiễn, thực dụng. Tất nhiên để hun đức cái truyền thống mới mẻ này, cần nhiều điều kiện khác mà Nam Bộ có được, trong khí phần còn lại của Việt Nam đương thời không có. Điều này sẽ được bàn sau. Ở đây chúng ta cần nhấn mạnh rằng: Yếu tố ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc trong vốn văn hóa truyền thống Việt Nam hàng ngàn năm trước đó bây giờ có thể có thêm điều kiện “cách tán” bằng mối quan hệ trực tiếp giữa người Việt ở Nam Bộ với bộ phận người Hoa hiện đại trong điều kiện, hoàn cánh mới. Đó là nét đặc thù tiêu biểu cho các ảnh hưởng văn hóa Hoa đối với văn Việt trên đất Nam Bộ, đặc biệt là trong các sinh hoạt Lễ hội dân gian của người Việt ở nơi đây.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN