Những lễ tục cần biết khi làm nhà ở – p1

Làm nhà

Với người Việt, làm nhà là một trong những việc trọng đại nhất của đời người, liên quan tới sinh mệnh của những người sẽ sống trong ngôi nhà đó. Bởi vậy, dân gian rất chú trọng tới các nghi thức, các bước phải làm lễ cúng. Ngoài việc chọn hướng nhà sao cho hợp tuổi gia chủ, người ta còn chú ý tới lễ động thổ, lên tầng, cất nóc.

Chọn đất làm nhà cũng như chọn hướng nhà là tối quan trọng trong việc xây cất. Tục Việt rất thận trọng trong việc này. Tuy nhiên, trước khi làm nhà, người ta phải xem tuổi, để biết tuổi có lợi với việc xây cất và tuổi có hợp với hướng định xây hay không. Nếu không phải đợi năm khác. Đất phải chọn nơi cao ráo, có thể tận dụng được cái khí của đất trời.

Cùng với nơi đất tốt, hướng nhà phải hợp với lẽ thuận nghịch của âm dương. Hướng Nam thường được người ta cho là tốt nhất, nhưng nhiều khi cũng còn tuỳ địa thế cưan nhà và tuổi của chủ nhà. Khi chọn hướng nhà, phải tránh góc ao, đao đình hoặc một con đường đâm thẳng nhà để tránh những ảnh hưởng không tốt về phong thuỷ.

Chọn tuổi làm nhà

Theo tập tục dân gian, công việc đầu tiên khi làm nhà là phải tìm thầy xem tuổi để tránh tuổi kim lâu, tuổi hoang ốc và năm tam tai. Sự kiêng cữ này của người xưa cũng không ngoài mong muốn gia chủ sống trong ngôi nhà đó mọi việc đều hanh thông, ăn nên làm ra, súc khỏe dồi dào… Bởi họ luôn tâm niệm: “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”.

Tuổi kim lâu là tuổi mà nếu làm nhà vào tuổi đó thì sẽ gây tai họa cho gia đình. Tuổi kim lâu chỉ tính cho đàn ông, người chủ gia đình, không tính cho đàn bà.

Lấy tuổi âm lịch (cả tuổi mụ) chia cho 9, nếu có những số dư là 1, 3, 6, 8 thì đó là tuổi kim lâu. Vậy tuổi kim lâu là 15, 17, 19, 21, 24, 26, 28, 30, 33, 35, 37, 39, 42, 44, 46, 48, 50, 53, 57, 60, 62, 64, 66, 69, 71, 73, 75.

Tuổi hoang ốc là tuổi mà tục xưa cho rằng nếu làm nhà vào những năm này thì khi dọn đến ở gia đình sẽ không được an khang.

Tuổi hoang ốc được tính sẵn là: 15, 18, 21, 23, 24, 27, 29, 30, 32, 33, 36, 38, 9, 41, 42, 45, 47, 48, 50, 51, 54, 56, 57, 60, 63, 65, 66, 69, 72, 74, 75.

Năm tam tai:

Những người tuổi Dần, Ngọ, Tuất bị tam tai năm Thân, Dậu, Tuất

Những người tuổi Thân, Tý, Thìn bị tam tai năm Dần, Mão, Thìn,

Những người tuổi Tỵ, Dậu, Sửu bị ta năm Hợi, Tý, Sửu.

Những người tuổi Hợi, Mão, Mùi bị tam tai vào năm Tỵ, Ngọ, Mùi.

Tuy là tập quán kiêng cữ có từ lâu đời, nhưng cần kíp người ta vẫn có những biện pháp giải quyết linh hoạt đối với những trường hợp đặc biệt. Chẳng hạn, khi gia đình đã chuẩn bị tre gỗ đủ rồi, nhưng chờ đến lúc được tuổi làm nhà thì lâu quá, nên chủ nhà đành phải làm nhà ở tuổi Kim lâu, nhưng khắc phục bằng cách nhờ một người trong nội tộc có tuổi đẹp đứng ra làm lễ khai móng, cất nốc giúp.

Chọn đất làm nhà

Khi chọn đất làm nhà, người xưa thường kiêng kị những mảnh đất có một trong các đặc điểm sau đây:

– Đất khuyết hậu, tức là phía sau nhà có ao hồ, ruộng trũng.

– Miếng đất có hình tam giác, hình chữ “kim”, vì làm nhà trên miếng đất có loại hình này thì chủ nhà thường có cảm giác mệt mỏi và dễ mắc bệnh.

– Đất hình tròn hoặc đất đuôi chuột (hẹp dần về phía sau), vì nếu làm nhà trên miếng đất có hình thù như thế này, thì chủ nhà sẽ làm ăn kém may mắn, sức khoẻ không tốt.

– Miếng đất có địa thế sông suối hoặc đường đi từ hai bên tụ hợp lại ở phía trước, rồi sau đó toả đi; loại này thuộc đất dữ.

– Miếng đất có địa thế sông suối hoặc đường đi chọc thẳng vào cửa chính, sau đó chia làm hai nhánh chảy sang hai bên. Nếu làm nhà trên miếng đất này, chủ nhà hay bị đau ốm và trong nhà thường xảy ra bất hòa.

– Miếng đất có địa thế sông suối hoặc đường đi hình cánh cung, mà lưng của cánh cung quay về phía trước cửa nhà. Nếu làm nhà trên miếng đất này, chủ nhà sẽ hao tài tốn của, gia đình bất hoà, hôn nhân trắc trở.

– Miếng đất có địa thế cánh cung như trênnằm ở phía tả hoặc phía hữu ngôi nhà.

– Miếng đất có địa thế phía sau là dòng sông hay con đường có một chỗ khuỳnh ra như lưỡi búa chĩa vào lưng nhà. Làm nhà ở trên miếng đất như thế này, chủ nhà dễ chuốc lấy điều thị phi hoặc bị lôi cuốn vào những cuộc tranh chấp.


– Miếng đất mà phía sau nhà có sông suối hoặc đường đi cong như hình chữ “đinh” ngược, vì đây là đất hung tướng, những điều xấu bất ngờ ập đến.

– Miếng đất mà có dòng sông chảy thẳng vào phía sau nhà, nhưng đến gần lại lượn chảy về hướng khác; đây gọi là địa thế nước xói. Thuỷ khí của nó đâm thẳng vào sau nhà, dòng sông càng hẹp thì sát khí càng mạnh. Chủ nhà dễ bị những điềm xấu xảy đến bất ngờ.

– Miếng đất bên cạnh có dòng sông, khi đến trước cửa, dòng sông lượn vào trước nhà. Đây gọi là dạng nước cong ngược. Ở trên thế đất này, gia đình không hoà thuận, tai nạn, bệnh tật dễ xảy ra.

– Miếng đất trên địa thế do nhiều miếng ghép lại, đất có hai cột ở phía dưới, đất đình, chùa, nghè, miếu cũ. Làm nhà trên đất này thì gia đạo sẽ sa sút.

– Nếu xây nhà hoặc mua nhà nơi mặt đất nghiêng chếch thì phải thận trọng. Ngôi nhà có cửa chính đối diện với con đường trên sườn đồi (hoặc sườn núi) thẳng hoặc chếch nghiêng cũng rất nguy hiểm, vì đây là điềm báo gia tài hao tổn, gia đình ly tán. Ngôi nhà ở cuối dốc nghiêng cũng là thế thoát khí, dễ hao tài. Nếu dốc đồi (hay núi) cấp và hẹp, mà dưới đó có nhà, thì điềm báo thiệt người.

Do vậy, ở nơi đồi núi, người xưa khuyên nên chọn chỗ bằng phẳng, rộng rãi mà làm nhà; tránh làm sát sườn dốc, hoặc để đường chạy vào cửa chính.

– Người xưa rất kiêng làm nhà nơi nha tiền miếu hậu, vì nha (nha môn) là nơi làm việc của quan lại hoặc trại lính, nên tránh làm nhà đối diện. Nhà ở vị trí này, dân gian gọi là “đương đầu đôi xung”, ở đây không thể hưng vượng được, người ở có thể bị thọ thương hay phạm pháp.

Nếu phía sau một ngôi nhà có đền miếu, thì cuộc sống cũng không vượng, vì bị âm khí của đền miếu ám vào. Những ngôi nhà này cũng không nên mua, không nên ở.

– Ngôi nhà đằng trước có đường cong, mà đỉnh đường cong chạy trước nhà, vào giữa cửa chính, vị trí như vậy được người xưa gọi là “nhai đạo phản cung” hay “liêm đạo sát yêu”; nhà ở thế này không nên ở. Người xưa cho rằng, nhà bị nhai đạo phản cung thì người ở không yên, có khi bị thương, bị bệnh hiểm nghèo hoặc xảy ra hỏa hoạn.

Chọn ngày giò dựng nhà

Người xưa khi dựng nhà, rất thận trọng chọn thời gian khởi công: xây móng hoặc cất nóc. Ngày giờ phải tốt, tránh ngày giờ xấu.

Những ngày khởi công tốt là ngày có cát tinh: Thiên hỷ, Thiên phúc, Thiên quý, Thiên thành, Thiên xá, Thiên quan, Thiên y, Phúc sinh, Phúc hậu, Cát khánh, Âm đức, Giải thần, Sinh khí, Phổ hộ, Ích hậu, Nhân chuyên, Sát cống, Trực tinh, Hoàng đạo, Thiên đức, Nguyệt đức. Tránh khỏi công vào những ngày có các hung tinh: Hoả tinh, Thiên hoả, Địa hoả, Sát chủ, Thọ tử, Vãng vong, Hoang vu…

Về giờ, người ta chọn giờ Hoàng đạo để khởi công. Trong một ngày đêm có 6 giờ Hoàng đạo và các ngày khác nhau thì giờ Hoàng đạo cũng khác nhau. Tránh khởi công vào giò Sát chủ, Thọ tử.

Dựng nhà

Làng Việt cổ thường được lập ở bãi đất cao để tránh ngập. Kết cấu của làng có nhiều dạng, song về nhà ở thì thường theo một số nguyên tắc chung. Trước hết, về hướng, thường làm quay về hướng Nam, nhằm đón gió mát về mùa hè và tránh gió bấc lạnh về mùa đông. Theo đạo Phật, đây là hương Bát nhã (trí tuệ), ngôi nhà sẽ được sáng sủa, nhất là mặt tinh thần.

Ngôi nhà thường được định vị ở phía Bắc khuôn viên, nhưng không làm sát hàng rào, vì sợ mất đường thông thuỷ, nguồn phúc bị kiệt. Định vị xong cho nhà thì tiến hành vượt đất, theo thế đất mà đào ao để lấy đất đắp nền nhà. Sau đó, theo ngày tháng năm sinh của chủ nhân mà định ngày dựng nhà. Nhìn chung, người Việt dàn trải mọi kiến trúc theo bề rộng, ít xu hướng theo chiều cao.

Kiến trúc nhà ở

Ngày xưa, phần lớn dân chúng đều ở nhà tre lợp tranh. Nhà thường được làm ba gian hai chái, mỗi gian rộng chừng năm thước ta, bề sâu từ đằng trước đến đằng sau là tám – chín thước, cao mười thước, kể từ nóc xuống. Cột, kèo, xà, đòn tay, rui, mè toàn bằng tre hoặc bương, đục lỗ, luồn giằng nhau vững chắc với những con xỏ cài giữ và buộc bằng mây. Hai đầu nhà và suốt mặt phía sau được bít kín bằng vách trát bùn nhào trộn với rơm. Phía trước thường để trống, chỉ khép lại khi cần bằng những tấm phên nứa đan; khi mở nhấc đặt sang một bên hoặc chống lên đằng trước. Nhà lợp bằng rạ phơi khô, trải lợp có nẹp buộc, gọi là lợp bộ, hoặc đánh thành tranh (gianh) lợp được bền lâu.

Người khá giả đôi chút thì làm nhà bằng gỗ nhỏ bào trơn đóng bén, hai mái bằng đòn tay bương, lợp rạ, hay cỏ tranh, lá gồi. Thường chủ nhà không đủ sức làm ba chuồng cửa ngay khi làm nhà, mà phải để lại làm sau, vì mười hai cánh cửa gỗ ván với ngạch ngưỡng, cũng phải tốn một món tiền không nhỏ.

Người giàu có làm nhà bằng gỗ quý, lợp ngói. Làm nhà kiểu đại khoa năm gian, toàn bằng gỗ đục chạm, sáu hàng cột ba mươi sáu chiếc, mười bốn hàng xà bảy mươi chiếc, chưa kể long cốtrường, bẩy, kẻ… Nhà làm rộng lắm cũng không bao giờ quá tám mét và cao tới sáu mét, kể từ nóc xuống, vì làm không quá cao là để tránh gió bão. Năm gian sáu vì kẻ chuyền hoặc chồng rường, tiền bẩy hậu kẻ; thay vì kẻ chuyền, có nhà làm mê đục chạm công phu. Dưới chân ba mươi sáu cột là ba mươi sáu viên đá tảng, nền vuông mặt tròn nổi có chỉ viền chung quanh. Việc đặt những viên đá tảng này cũng là việc quan trọng, phải chọn ngày tốt và làm lễ cúng Thổ thần, gọi là lễ In tảng.

Nhà to đến mấy thì mỗi gian cũng không bao giờ làm rộng quá cỡ, tính theo thước Lỗ Ban, tức là không quá bảy thước ta, thành ra nhà năm gian rộng lớn, chiều dọc cũng không quá bốn mét. Lại phải chia khoảng mỗi gian hơn kém, không đều nhau để tránh gặp những cung xấu, tính theo tuổi của chủ nhân đối chiếu với hướng nhà.

Đằng sau nhà là tường xây kín, gọi là bức hạ; phía trước là cửa ra vào, hai bên chỉ có cửa nhỏ thông sang gian buồng. Cửa đằng trước, mỗi gian có bốn cánh; nhà gỗ nhỏ thì làm bạo vói cánh cửa bức bàn, nhà to thì bao giờ cũng đóng đố và làm cửa ô con tiện. Nhà ngoài ngăn cách với buồng bằng bức bàn gỗ, có khung bạo với ô đố xoi chỉ.

Kiến trúc ta không dùng đinh sắt mà đầu xà đều làm mộng thắt ăn ngàm vào cột, giằng nhau chống đỡ rất vững chắc. Phần nhiều gỗ làm nhà không được thẳng lắm, nhưng qua bàn tay khéo léo của người thợ mộc, khi cất nhà lên, các cột và xà lần lượt lắp vào mộng, dùng vồ sàm đóng khít chặt. Những khúc gỗ cắt ngắn dựng trụ chồng rường, nét chạm cong queo không có góc vuông đường thẳng, vậy mà khi lắp lên vẫn thẳng mực làm theo đường phát mái.

Khi thợ mộc đã chuẩn bị xong mọi chi tiết thì mới cất nhà. Trước hết, dựng hai cột cái giữa nhà, lắp xà lên, rồi đến các cột theo nhau với những xà ngang, xà dọc; lắp xong hết rường, bẩy, kẻ, thì đến việc quan trọng nhất là cất nóc. Cất nhà phải chọn giờ tốt đã đành, mà cất nóc còn phải chọn giờ tốt trong ngày ấy.

Hết việc thợ mộc mới đến việc thợ nề lợp mái, xây tường, đắp bờ bảng, bó nền, lát nhà. Hai đầu hồi và cả phía sau nhà là tường xây bít kín, hoặc để cửa sổ cho thoáng. Tường gạch hay đá xáy bằng hồ vôi trộn cát. Nền nhà thường cao hơn sân vài bậc, khoảng 40cm.

Ngày xưa, nếu thường dân làm nhà rộng quá thể thức thông thường, với nền cao ba bậc (tam cấp), cũng như chạm trổ, đắp vẽ lộng lẫy là phạm tội lộng hành; dân cũng không được làm nhà kiểu chữ “công” hoặc chữ “môn”. Vì vậy, nhà giàu có phải xây nhà thờ gia tiên, nhà khách riêng biệt.


Chín cung của ngôi nhà

Một ngôi nhà dù ở vị trí nào cũng bị chi phối bởi bốn hướng chính – Đông, Tây, Nam, Bắc và bốn hướng phụ – Đông – Nam, Đông – Bắc, Tây – Nam, Tây – Bắc. Mỗi hướng tương ứng với một phần của ngôi nhà, còn gọi là một cung, mỗi cung tượng trưng cho một lĩnh vực trong đời sống của con người.

Ngôi nhà có mặt bằng hình vuông hay hình chữ nhật, khi chia mỗi bề của ngôi nhà ra làm ba phần đều nhau, sẽ có chín ô vuông. Ô ở giữa gọi là Trung cung, đó cũng là tâm điểm của ngôi nhà. Nếu khởi từ hướng Bắc của ngôi nhà và lần lượt theo chiều kim đồng hồ, sẽ có tám cung nữa là: Quan lộc, Học vấn, Gia đạo, Tài lộc, Địa vi, Tình duyên, Tử tức, Quý nhân.

Cung quan lộc là phần nằm ngay hướng chính Bắc của ngôi nhà, Dịch học gọi là cung Khảm. Trong ngũ hành, hướng Bắc thuộc hành Thuỷ, màu tượng trưng là màu xanh đen; trong thiên nhiên tượng trưng cho nước, trong gia đình ứng với người con trai giữa. Cung này tượng trưng cho nghề nghiệp, công việc làm ăn của những người ở trong nhà. Dù tự mình kinh doanh, hay đi làm công cho người khác, thì cung quan lộc cung nói lên được việc làm có bền vững, có được thăng tiến hay không.

Cung học vấn là phần của ngôi nhà ở hướng Đông – Bắc, còn gọi là cung Cấn; trong ngũ hành thuộc hành Thổ, màu tượng trưng là màu kem, màu lục; trong thiên nhiên tượng trưng cho núi, trong gia đình ứng với người con trai út. Cung này chủ về vấn đề học hành, thi cử và kiến thức của những người ở trong nhà.

Cung gia đạo là phần của ngôi nhà ở hướng chính Đông, còn gọi là cung Chấn; thuộc hành Mộc, màu thích hợp là màu xanh, xanh lục. Trong thiên nhiên tượng trưng cho cây lớn, trong gia đình ứng với con trai trưởng. Cung này bao gồm ý nghĩa về sức khoẻ, về tình cảm giữa vợ với chồng, giữa những người ở trong nhà với nhau.

Cung tài lộc là phần ngôi nhà ở hướng Đông – Nam, còn gọi là cung Tốn; thuộc hành Mộc, hợp với màu xanh, màu tím, màu đỏ thẫm. Trong thiên nhiên tượng trưng cho cây nhỏ, trong gia đình ứng với trương nữ. Cung này tưởng trứng cho tiền bạc, tài sản, sự giàu có.

Cung địa vị toạ lạc ở hướng chính Nam, còn gọi là cung Ly; thuộc hành Hoả, hợp với màu đỏ. Trong thiên nhiên tượng trưng cho lửa, trong gia đình ứng với người con gái giữa. Cung này quan trọng đối với những người hoạt động xã hội và văn học – nghệ thuật, cần có danh tiếng.

Cung tình duyên toạ lạc ở hướng Tây – Nam, còn gọi là cung Khôn; thuộc hành Thổ, màu thích hợp là màu vàng, màu kem. Trong thiên nhiên tượng trưng cho dải đất lớn, trong gia đình ứng với người mẹ. Cung này ảnh hưởng tới tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc của những người ở trong nhà.

Cung tử tức toạ lạc ở hướng chính Tây, còn gọi là cung Đoài; thuộc hành Kim, màu thích hợp là màu trắng, màu trắng bạc, màu hoàng kim. Trong thiên nhiên tượng trưng cho kim loại, trong gia đình ứng với người con gái út. Cung này ảnh hưởng đến việc sinh con, đến năng khiếu sáng tạo (tạo ra các tác phẩm – đứa con tinh thần).

Cung quý nhân toạ lạc ở hướng Tây – Bắc, còn gọi là cung Càn; thuộc hành Kim, hợp với màu trắng, màu trắng bạc, màu vàng kim. Trong thiên nhiên tượng trưng cho kim loại, trong gia đình ứng với người cha. Cung này bao gồm những người có liên hệ đến cuộc sống hàng ngày như bạn bè, học trò, khách hàng, đồng nghiệp; hay xa hơn, là những vị thánh thần được thờ phụng.

Trung cung toạ lạc ở chính giữa nhà; thuộc hành Thổ, màu thích hợp là màu vàng. Trung cung có ảnh hưởng tới mọi người trong gia đình, ở vị trí này, tốt nhất là kê giường ngủ của chủ nhân.

Kiêng kị khi làm nhà

Trong quá trình làm nhà, người xưa rất kiêng kị những trường hợp sau:

– Kị góc ao, đao đình, đường đi, nóc nhà của người khác đâm thẳng vào gian giữa. Bởi vì gian giữa ngôi nhà chính là nơi thiết lập bàn thờ gia tiên, nơi diễn ra những nghi lễ cúng khấn rất thành kính và sự cầu mong chân thành của con cháu. Một vị trí trang trọng như thế, thì không nên để có bất cứ điều gì khiến ngươi ta liên tưởng đến sự không an toàn và điều không tốt lành. Kị đường đi vì lúc nào cũng có bước chân người qua lại, khi vui vẻ thư thái, khi đánh chửi nhau, khi gánh phân ô uế. Những sự việc, hiện tượng đó không nên để các cụ trên bàn thờ nhìn thấy. Kị nóc nhà của nhà phía trước đâm thẳng vào gian giữa, vì người ta liên tương đến chuyện các cụ đang ngự trên bàn thờ mà lại bị người nào đó cầm hung khí đâm thẳng vào mặt.

– Kị lối đi xóc nách, tức là lối đi sát ngay đầu hồi nhà hay sát giọt gianh trước nhà. Người xưa cho rằng, nhà nào có lối đi như thế thì làm ăn không gặp may, hoặc có kẻ gây chuyện khó dễ, cha con xung khắc, vợ chồng bất hoà.

– Kị cửa chính của hai nhà đối diện nhau. Trường hợp cửa nhà trên (nhà chính) và nhà dưới hoặc nhà bếp nhìn thẳng vào nhau, người ta gọi là đấu khẩu, cửa nhà như thế thì trong gia đình hay xảy ra cãi nhau.

– Kị nối nóc, kị đốt của nóc nhà bằng tre rơi vào chữ “tử”, chữ “bệnh”. Có hai trường hợp nối nóc. Một là, hai ngôi nhà cùng hướng, cao như nhau, mái dốc như nhau, nên hai nóc nhà liền nhau sẽ tạo thành một đường thẳng. Hai là, nóc nhà được nối bởi hai cây tre, bởi vì ngày xưa, ngôi nhà tranh thường chỉ có ba gian hai chái, nên nóc nhà là một cây tre. Việc chọn tre làm nóc cũng phải chọn cây tre thẳng, to đều, nây ngọn, các đốt có số đo không chênh lệch, và đặc biệt, đốt cuối của nóc nhà phải rơi vào chữ “sinh”, theo cách đếm: sinh, lão, bệnh, tử (bắt đầu từ gốc trở lên).

– Trong khi sửa chữa hoặc làm lại nhà, người xưa rất kị cắt rời nóc nhà và các chi tiết nằm theo chiều dọc ngôi nhà (như đòn tay, tàu nhà) khi còn nguyên hình thù ngôi nhà. Muốn làm lại, người ta phải dỡ các chi tiết đó, hạ xuống đất, rồi mới tiến hành sửa. Vì người xưa cho rằng, nếu làm như thế thì chủ nhà sẽ chết nửa đời, vợ chồng sẽ không ăn đời ở kiếp với nhau, con cái sẽ chết yểu.

– Ngày xưa, khi làm nhà, dù nhà to hay nhà nhỏ, ngươi ta rất kị có số gian chẵn (hai, bốn, sáu), mà phải là số lẻ (một, ba, năm), vì theo tín ngưỡng dân gian, số lẻ là số sinh, biểu tượng cho hào dương.

– Sau lễ Phạt mộc, công việc đầu tiên của ông thợ cả là làm một cây sào mực từ cây tre cái thẳng và già, trên đó có vạch các ký hiệu, ghi số đo của toàn bộ các chi tiết của ngôi nhà (cột, kèo, câu đầu, xà…để sử dụng trong suốt quá trình làm nhà. Khi nhà làm xong, nó được gác lên hai câu đầu giữa nhà. Người ta rất kiêng đánh mất cây sào mực, vì như vậy, sau này gia chủ có sửa chữa, bán nhà hay chuyển đi nơi khác thì sẽ gặp trở ngại.

– Khi đặt nóc và đòn tay nhà, người xưa rất kị để mắt tre nhìn xuống đất và nhìn lên trời, mà các mắt tre bao giờ cũng nhìn sang hai bên; vì tin rằng, nếu không kiêng kị, thì mọi người trong nhà dễ mắc bệnh đau mắt, thần kinh, làm ăn hay gặp rủi ro, lục đục.

– Kiêng đặt đòn tay theo kiểu trở đầu đuôi, mà phải cùng chiều, theo nguyên tắc “gốc Đông, ngọn Tây”.

– Cũng như tập quán kiêng kị số chẵn của số gian nhà, người ta cũng kiêng số chẵn của những chữ viết trên câu đầu gian giữa và thượng lương nhà, mà phải là số lẻ.

– Trong suốt thời gian thi công, người ta rất kị để xảy ra bất hoà giữa chủ nhà và thợ. Bởi vì, nếu xảy ra tình trạng không vui này, ông thợ đáo để mà yểm bùa thì chủ nhà sẽ gặp nhiều tai hoạ.

Khi chuyển đồ đạc vào trong nhà, người xưa kiêng chuyển không đúng trật tự trước sau. Trật tự đúng là: bếp lửa (đầu rau), bàn thờ, rồi mới đến giường, tủ, bàn, ghế…



BÀI VIẾT LIÊN QUAN