Tổng quan về lễ hội dân gian người việt ở nam bộ

Lễ hội dân gian hoặc Hội lễ dân gian, thuật ngữ dùng để chi một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian phổ biến có thể tổng hợp nhiều loại hình văn hóa dân gian khác nhau (tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán, văn học nghệ thuật dân gian…) qua hình thức cảnh diễn hóa (spectacu- lariser) tại một địa điểm, một thời gian nhất định bằng những nghi thức, nghi vật, nghi trượng đặc trưng xoay quanh hai nội dung cơ bản: lễ và hội. Lễ (rite) là phần thiêng nên có các nghi thức quá trình nghiêm ngặt, chặt chẽ, ít thay đổi và chủ yếu gắn với nhu cầu tâm linh, bao gồm: cầu, cúng, rước, tụng, lạy… tức những hành vi ứng xử trang trọng mang tính chất suy nghiệm của người dự lễ hướng về một đối tượng cử lể mang những giá trị lịch sử -văn hóa hoặc ý nghĩa thiêng liêng nào đó; và HỘI (fête) chủ yếu là ĐỜI THƯỜNG (trần tục), nơi giải toả tâm lý, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa (vật chất, tinh thần), đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cộng đồng bao gồm: ăn, chơi, giao duyên, thi tài, vãn cảnh… tức những sinh hoạt vui vẻ, hào hứng mang tính chất “cộng cảm” và vì nhu cầu văn hóa tinh thần của cộng đồng người tham gia lễ hội là chủ yếu. LỄ và HỘI vừa mang đặc điểm, tính chất riêng như vậy vừa có mối quan hệ chặt chẽ vdi nhau, đôi khi như đan xen hoặc thay thế nhau.

Vốn sản sinh chủ yếu từ trước và trong xã hội nông nghiệp, Lễ hội dân gian tồn tại, phát triển đến nay có thể theo các xu hướng truyền thống hóa (lễ hội dân gian truyền thống hoặc lễ hội truyền thống), cổ điển hóa (lễ hội cổ truyền), hoặc hiện đại hóa (lễ hội mới, festival, carnaval)… Mặt khác, người ta cũng có thể phân biệt Lễ hội dân gian (thuộc dòng Văn hóa dân gian) hoặc lễ hội truyền thống (lễ hội mang những giá trị văn hóa truyền thống) với lề hội tôn giáo (gắn với sinh hoạt của các tôn giáo thế giới củng như tôn giáo địa phương) rồi, gộp chung các loại lễ hội đó với nhau bằng khái niệm lễ hội cổ truyền (lễ hội được lưu truyền từ trong lòng xã hội cũ, tức các xã hội tiền công nghiệp) nhằm để phân biệt với lễ hội hiện đại (còn được gọi là lễ hội mới hay lễ hội cách mạng) hiện nay.

Tuỳ thuộc vào mục đích của mình, các nhà nghiên cứu thường phân loại Lễ hội dân gian dựa vào những tiêu chí khác nhau, ví dụ có thể quy chiếu theo cấp độ tổ chức và quy mô xã hội, như:

Lễ hội gia đình: Những lễ tiết (có thể kết hợp yếu tố “hội”)gắn với các mốc chuyển đoạn đời người và quy mô diễn ra chủ yếu trong gia đình như sinh nhật, đám cưới, tang, giỗ…hoặc các sinh hoạt khác liên quan phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡg của cộng đồng gia đình.

Lễ hội làng và vùng: Những Lễ hội dân gian đã được thiết chế hóa,thường gắn với các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo như đình, miếu, lăng, đền… và chi phối mạnh mẽ một cộng đồng người rộng lớn (ít nhất là một làng).

Lễ hội quốc gia, dân tộc: Những lễ hội chi phối và ảnh hưởng sâu rộng tới mọi thành viên trong cộng đồng (dân tộc, quốc gia), ví dụ: lễ hội thờ Quốc Tổ (Hùng Vương), lễ hội thờ Quốc Mẫu (Pô Inư Nagar của người Chăm) v.v…Các ngày Lễ Tết (lễ hội theo tiết mùa) của các dân tộc cũng có thể xếp vào đây…

Lễ hội dân gian (đặc biệt là lễ hội làng, tức loại hình lễ hội điển hình và có vị trí chủ đạo trong hệ thống lễ hội cổ truyền ở nước ta), còn được phân loại dựa theo quy chiếu loại hình. Ví dụ căn cứ vào đặc điểm nội dung và đối tượng cử lễ của các Lễ hội dân gian người ta có thể chia ra như sau:

– Lễ hội gắn với các nghi lễ nông nghiệp cổ truyền

– Lễ hội tưởng niệm các nhân vật lịch sử dân tộc

– Lễ hội nhằm sinh hoạt văn nghệ, giải trí

– Lễ hội gắn với tín ngưỡng phồn thực và giao duyên

– Lễ hội tôn vinh truyền thống nghề nghiệp

– Lễ hội thi tài.

Mỗi Lễ hội dân gian ở nước ta xưa nay đều có nguồn gốc, đặc điểm, vị trí, chức năng riêng trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân nhưng nói chung đều tồn tại như là “một bảo tàng văn hóa” về phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, về văn học nghệ thuật dân gian…của các dân tộc. Vì vậy, việc nghiên cứu Lễ hội dân gian có nhiều ý nghĩa, trong đó có thể nhấn mạnh: “Nếu biết cách lần lượt bóc tách các tầng lớp văn hóa khác nhau đã bồi tụ chồng chất lên nhau trong các hội lễ truyền thống thì có thể tìm hiểu lịch sử xã hội, lịch sử văn hóa của từng làng, từng vùng và của toàn thể đất nước… Việc làm ấy còn có thể giúp chúng ta hiểu tiến trình tiếp biến văn hóa và những quy luật của tiến trình này”.


Trong các nội dung nghiên cứu về Lễ hội dân gian, có một vấn đề quan trọng, đó là khía cạnh giao tiếp Văn hóa dân tộc của nó.

GIAO TIẾP là một dạng hoạt động quan trọng của con người, là đối tượng mà nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu. Thông tin học xem đó là quá trình phát tin – nhận tin và xử lý thông tín qua những hình thức, những phương tiện hay những kênh thông tin khác nhau. Tám ỉý học nhìn nhận nó như quá trình tiếp xúc người – người, là hoạt động hình thành, phát triển và vận hành quan hệ, tâm lý vả cả tính cách con người. Xã hội học còn thấy rằng giao tiếp bao giờ cũng mang tính xã hội, dù đó có thể là giao tiếp cá nhân hay giao tiếp nhóm (tập thể) hoặc cộng đồng, giao tiếp trực tiếp, gián tiếp hay trung gian v.v…Bao quát hơn, Triết học văn hóa và Văn hóa học đã khẳng định rằng giao tiếp là một hoạt động của con người mang tính Người nhất, bởi đó là một dạng hoạt động của ý thức nhằm góp phần trao đổi, kế thừa, bảo lưu hoặc phát triển các giá trị văn hóa đã được sáng tạo và tích lũy trong lịch sử để qua đó con người có thể thoả mãn các nhu cầu văn hóa tinh thần của mình (nhận thức, sáng tạo, giao lưu v,v…), là điều kiện thiết yếu cho sự phát triển của con người và xã hội trong bất cứ môi trường hay hoàn cảnh nào, Lý luận văn hóa Mác – Lênin vẫn cho rằng trong mọi quá trình xã hội, giao tiếp văn hóa được xem là có vị trí đặc biệt bởi vì nó chính là một thành tố thuộc về bản chất năng động của văn hóa, cái làm cho văn hóa phát triển như những giá trị liên tục (les valeurs continues) đồng thời góp phần lầm cho văn hóa trở thành là động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội nói chung. Ở góc độ Dân tộc học, giao tiếp và giao tiếp văn hóa tộc người được xem xét như là một nhân tố gắn liền trong sự vận động của các quá trình tộc người để hình thành nên các quá trình văn hóa tộc người, là một tác nhân quan trọng tạo ra động lực phát triển và đặc điểm của các tộc người, của các nền văn hóa dân tộc hoặc của các vùng văn hóa (tộc người)…

Như vậy, GIAO TIẾP là một khái niệm có thể mang nhiều cấp độ ý nghĩa, từ sự giao tiếp (com­munication) thông thường cho tới các mối quan hệ văn hóa – xã hội của con người và các cộng đồng người nhìn ở góc độ khoa học, như: tiếp xúc (contact, relation), giao lưu (échange), hội nhập (intégration) v,v…Do đó, Giao tiếp văn hóa dân tộc ở đây có thể được xác định là một khái niệm nói về mối quan hệ nhiều chiều trong nội bộ hoặc giữa các cộng đồng dân tộc (tộc người) trong lịch sử, chủ yếu bao gồm các quá trình giao lưu, hội nhập, tiếp xúc và tiếp biến văn hóa.

GIAO LƯU VAN HÓA (échange culturelle) là khái niệm nói về một hiện tượng phổ biến mang tính quy luật thường xuyên chi phối quá trình vận động, phát triển trong mọi nền văn hóa dân tộc trên thế giới. Nó là hệ quả của sự tiếp xúc (contact) và là nguyên nhân, điều kiện cho sự hội nhập (integra­tion) của các nền văn hóa khác nhau khi có dịp gặp gỡ nhau trong những điều kiện, hoàn cảnh nào đó. Trước khi nói đến giao lưu, hội nhập và để có các quá trình ấy, nhất thiết phải có sự “gặp nhau” giữa các nền (giá trị) văn hóa (dân tộc) khác nhau, tức cần phải có sự tiếp xúc văn hóa (contact culturel) nhất định. Trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử – cụ thể, sự tiếp xúc văn hóa có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, lâu dài hoặc ngắn ngủi, tự nguyện hoặc cưỡng bức,… là những nhân tố có ảnh hưởng nhất định (tích cực hoặc tiêu cực) đối với các quá trình giao lưu, hội nhập văn hóa gắn trong đó và ngay sau đó. Mục đích tự thân của giao lưu văn hóa chính là sự trao đổi (cho và nhận) những giá trị văn hóa vốn có của mỗi nền văn hóa dân tộc đang ở trong quá trình giao lưu ấy. Vì vậy: “Giao lưu văn hóa gắn liền với hội nhập văn hóa. Càng mở rộng giao lưu văn hóa, sự hội nhập văn hóa càng diễn biến sôi động hơn, đồng thời phức tạp hơn”. Hội nhập văn hóa (integration Culturelle) cũng có thể hiểu thực chất đó là sự xen cài, tích hợp các giá trị văn hóa thông qua sự tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố “nội sinh” và “ngoại sinh”, diễn ra trong các quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, các quốc gia cụ thể. Ví dụ, ở tầm vĩ mô bao quát nhất, đó có thể gồm các quá trình: “Sự hội nhập văn hóa đồng đại luôn có tính chất hai chiều: Hội nhập từ quốc tế vào quốc gia và hội nhập từ quốc gia vào quốc tế. Còn trong hội nhập văn hóa lịch đại thì có sự hội nhập từ văn hóa quá khứ của quốc gia vào văn hóa hiện đại của quốc gia; có sự hội nhập từ văn hóa quá khứ của quốc tế vào văn hóa hiện đại của quốc gia; đồng thời có sự hội nhập giữa văn hóa quá khứ của quốc gia vào văn hóa hiện đại của quốc tế…”.

Hiệu quả cuối cùng (có thể tích cực hoặc tiêu cực) của một quá trinh tiếp xúc và giao lưu, hội nhập văn hóa như vậy tuỳ thuộc vào hai yếu tố cơ bản:

– Một là, chất và lượng của các giá trị văn hóa được trao đổi.

– Hai là, động cơ, thái độ và trình độ, bản lĩnh văn hóa (gồm cả quan điểm, biện pháp) của đối tượng đang thực hiện các quá trình ấy.

Chính vì thế, tiếp xúc và giao lưu văn hóa tích cực đòi hỏi phải gắn liền với một quá trình hội nhập văn hóa chủ động, có nghĩa là phải gắn với một quá trình tiếp biến văn hóa nhất định.

TIẾP BIẾN VĂN HÓA (accculturation) là sự dung hợp và thanh lọc các giá trị văn hóa trong một quá trình tiếp xúc và giao lưu, hội nhập văn hóa tích cực, chủ động nhằm vừa tiếp thu được tinh hoa văn hóa các dân tộc khác vừa vẫn giữ gìn, phát huy được bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình theo hướng “hòa mà không tan” (không bị đồng hóa, mất gốc) trong tiến trình phát triển của Văn hóa dân tộc. Chủ yếu đó là quá trình tiếp biến văn hóa theo chiều ngang – không gian. Quá trình ấy tất nhiên không biệt lập mà phải gắn kết với quá trình tiếp biến văn hóa theo chiều dọc – thời gian, tức quá trình kế thừa có chọn lọc, khai thác một cách tự giác các thành tựu văn hóa mà bản thân dân tộc đã tích luỹ được trong quá khứ, kết hợp nhuần nhuyễn các giá trị truyền thống đó với các giá trị văn hóa hiện đại làm thành hàng trang sức mạnh tinh thần để cho dân tộc ngày càng thêm vững bước tiến về tương lai. Tóm lại, Tiếp biến văn hóa là quá trình tiếp thu, biến cải, kế thừa các giá trị văn hóa ảnh hưởng từ bên ngoài kết hợp với từ trong quá khứ, khai thác một cách sáng tạo các giá trị ấy theo yêu cầu của thực tiễn cuộc sống hiện đại, tại chỗvà chủ động tạo sự thích nghi, hài hòa giữa các yếu tố văn hóa ngoại sinh với vốn văn hóa nội sinh của dân tộc. Là khâu quyết định cuối cùng đem lại hiệu quả tích cực cho một quá trình tiếp xúc, giao lưu, hội nhập văn hóa, do vậy tiếp biến văn hóa cùng phải có những điều kiện nhất định nhằm tạo ra năng lực và chất lượng cho nó, trong đó đặc biệt là điều kiện về bản lĩnh và trình độ, phẩm chất văn hóa của chủ thể trực tiếp thực hiện quá trình tiếp biến văn hóa ấy. Đó là điều kiện chủ quan, về khách quan thì cần phải đề cập đến yếu tố loại hình hoạt động văn hóa và các điều kiện tự nhiên – lịch sử – xã hội, tức nơi tạo môi trường, hoàn cảnh trực tiếp diễn ra một quá trình tiếp biến văn hóa (rộng ra là quá trình giao tiếp văn hóa) cụ thể…

Với tư cách là một trong những loại hình hoạt động văn hóa của Nam Bộ, hệ thống Lễ hội dân gian của người Việt ở đây trở thành đối tượng góp phần nghiên cứu về nhửng nét riêng trong sinh hoạt Văn hóa dân gian đồng thời có thể vừa là nơi tìm hiểu về các quá trình giao tiếp (giao lưu và tiếp biến.,,) Văn hóa dân tộc đặc thù của vùng đất này. Thực tế cho thấy, yếu tố địa – văn hóa và hoàn cảnh lịch sử – xã hội của Nam Bộ góp phần tạo ra vẻ riêng trong các mối quan hệ giao tiếp Văn hóa dân tộc mà Lễ hội dân gian của người Việt nơi đây đã phản ánh khá rõ ràng cho chúng ta ngay ở bước tiếp cận đầu tiên. Dựa vào những nét đặc thù ấy chúng ta có thể tìm thấy thêm một số cơ sở để góp phần phân loại các Lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ như sau:

Nhìn ở góc độ lịch đại, căn cứ vào quá trình phát sinh, phát triển của các lễ hội mà xếp loại chúng theo thời gian, ví dụ dựa vào quá trình lịch sử khai phá “mở làng”, “dựng ấp” của người dân Việt ở vùng đất Nam Bộ, chúng ta có thể tổng kết công thức chung như sau để nói về tiến trình cơ bản của việc hình thành hệ thống tín ngưỡng và Lễ hội dân gian của họ nơi đây: từ BIỂN vào SÔNG, RẠCH rồi lên RUỘNG, VƯỜN sau đó mới mở NGHỀ, lập CHỢ, Cụ thể hơn đó là:

  • Các tín ngưỡng – lễ hội thờ cá voi và thờ thần đi biển;
  • Các tín ngưỡng lễ hội thờ thần sông, nước và động vật sông, nước;
  • Các tín ngưỡng – lễ hội thờ thần Đất, thờ Trời, thờ thần Thành Hoàng và anh hùng liệt sĩ;
  • Các tín ngưỡng – lễ hội thờ Tổ nghề;
  • Các tín ngưỡng – lễ hội gắn với tập tục ngưòi mua bán…

Hoặc, nhìn ở góc độ đồng đại, căn cứ vào đặc thù riêng của từng nhóra lễ hội (với nghi thức, nghi vật, nghi trượng đặc trưng) gắn vổi từng nhóm cộng đồng người (tức đối tượng dự lễ) cụ thể cùng những quy mô tổ chức khác nhau để xếp chúng theo từng loại hình; ví dụ:

  • Lễ hội thờ cúng thần Thành Hoàng và các nhân vật lịch sử: Loại Lễ hội dân gian có quy mô xã hội cấp làng (hoặc vùng), thường gắn với các thiết chế tín ngưỡng dân gian như đình, lăng, đền… ở Nam Bộ.
  • Lễ hội nghề nghiệp: Loại Lễ hội dân gian của những cộng đồng nghề nghiệpchủ yếu là thờ tổ (hoặc vật tổ) các nghề truyền thống của Nam Bộ như kim hoàn, sân khấu, đánh cá (ven biển), mộc, dệt v.v…
  • Lễ hội thờ Mẫu – Nữ thần: Loại Lễ hội dân gian gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu – Nữ thần của Nam Bộ (Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Ngũ Hành…)hoặc nguyên gốc từ tín ngưỡng và tập tục thờ Mẫu – Nữ thần của miền Bắc (Bà Liễu Hạnh, Tam Phủ, Tứ Phủ…).
  • Lễ Tết: Loại LHDG gắn với tiết mùa, với những ngày Tết trong năm và chi phối rộng rãi nhiều đối tượng (Nguyên Đán, Đoan Ngọ, Trung Thu…).

 



BÀI VIẾT LIÊN QUAN