Tục lệ sinh con của người Việt

Thành ngữ Việt Nam từ xa xưa đã có câu: “Một con một của chẳng ai từ”. Nhà nào, họ nào đa đinh đều được coi là có phúc, dù có nghèo đói. Vì thường coi việc có con là hệ trọng, nên bạn bè thân thích gặp nhau hay hỏi thăm về con cái.

Kiêng khem khi có thai

Từ đời này sang đời khác, khi người phụ nữ có mang thường tuân theo những điều phải làm và kiêng khem như: năng cất nhắc, vận động (con so làm cho láng giềng); kiêng ăn nhiều chất bổ (sợ thai to, khó sinh); kiêng ần quả sinh đôi (tránh song thai); kiêng ăn trai, sò, ốc, hến (để COĨ1 không có nhiều rớt rãi); không nóng giận (ảnh hưởng đến thai); không làm việc ác (để phúc cho con); không nhìn những cảnh khiếp sợ, thương tâm; ăn nhiều trứng gà, đu đủ chín (để da đứa trẻ được hồng hào): luôn vui tươi, giữ cho tâm hồn thoải mái.

Phụ nữ xưa khi có thai, tuyệt đối không đi đến đình chùa, đền miếu, vì cho rằng, nếu đến đó, cái thai sẽ không yên, dễ bị nhiễm linh khí hung sát. Đặc biệt, không được đi xem bói toán, vì có thể bị độc miệng từ người xem mà ảnh hưởng tới bản thân mẹ và thai nhi.

Khi có thai, người xưa cũng tạo ra tâm lý bình thản và ngăn náp trong sinh hoạt của người mẹ. Người ta cho rằng, làm như vậy, đứa trẻ sau này sẽ điềm tĩnh và sáng trí.

Ở nông thôn ngày xưa, phụ nữ là lao động chính trong nhà, phải làm lụng vất vả. Nhiều người có thai đến sát ngày sinh vẫn phải vác bụng đi cấy, đi chợ. Vì vậy, có những trường hợp đẻ ở ngoài đồng, ngoài chợ, nặng hơn thì xảy ra sẩy thai, đẻ non. Chính vì lẽ đó, người xưa rất kiêng kị trong thời kỳ mang thai.

– Trong suốt thời kỳ vợ có thai, người chồng không được cầm dao cắt tiết gà vịt, lợn…vì người ta cho rằng, nếu làm những việc ấy thì đứa con sinh ra sẽ bị động kinh.

– Phụ nữ có thai kiêng ăn cơm cháy, vì sơ đẻ con ra sẽ bị chốc đầu.

– Kiêng nói lời ác độc, nghĩ đến điều ác và làm điều ác, mà phải siêng đi cầu cúng, làm việc thiện, nghĩ đến điều tốt, nói lời tốt lành để gây phúc đức cho con.

– Kiêng trèo cây, nhảy qua rãnh nước, kiêng gồng gánh, mang vác nặng, kiêng đi xa và ngủ qua đêm xa nhà, vì sợ sẩy thai, đẻ rơi ở dọc đường, đẻ ở nhà người khác.

Trong lúc mang thai, người đàn bà phải tránh ăn những đồ quá bổ béo, e cái thai quá lớn khó sinh. Ngoài ra phải kiêng ăn cua để tránh đẻ ngang, ăn thịt chó để tránh sinh con sứt môi. Người ta còn cho rằng, nếu trong khi có thai mà ăn ốc thì đứa con đẻ ra sẽ bị trề môi và mồm miệng lúc nào cũng có rớt rãi; nếu ăn canh cua thì con đẻ ra có nhiều rôm sảy; nếu ăn ổi xanh thì sẽ khó đẻ.

– Kiêng xúc động mạnh – đau buồn quá, uất ức quá. Bởi vì nếu người mẹ đang mang thai mà ở vào trạng thái tinh thần như thế thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển tâm lý và trí tuệ của đứa bé.

Đánh đai bụng

Người đàn bà sau khi lấy chồng, sẽ chờ đợi ngày có tin mừng, nghĩa là ngày bắt đầu có thai. Mặc dầu có thai là có tin mừng, nhưng ngày xưa nhiều người vợ trẻ vẫn lấy làm thẹn thùng, nên các cô cố giấu, càng được lâu càng hay về sự có tin mừng của mình bằng cách đánh đai bụng để bó giữ cho bụng được nhỏ lâu. Ngày nay, với sự hiểu biết khoa học về thai nghén, các bà mẹ đà đều bỏ hẳn tục này.


Thai giáo

Ngay từ lúc còn là bào thai, con người đã phải chịu một sự giáo dục qua người mẹ – đó là thai giáo. Vấn đề này rất quan trọng, vì mọi ý nghĩ và hành động của người mẹ trong lúc có thai đều có thể ảnh hưởng tới bào thai trong bụng. Cho nên trong lúc mang thai, người đàn bà phải làm nhiều việc xưa nay không làm, phải kiêng nhiều điều xưa nay không cần kiêng. Vì cho rằng sự ăn không ngồi rồi có hại cho sức khoẻ người mẹ và còn ảnh hưởng tới cả bào thai, nên xưa kia, ngay cả những gia đình khá giả, trong lúc có thai, người đàn bà cùng phải bày đặt ra công việc để làm cho chân tay cử động.

Trong vấn đề thai giáo, người mẹ phải tránh mọi cảnh tượng hãi hùng, mọi cử động gian tà, mọi lời thô bỉ, mọi sự nổi giận, kêu gào để cho cái thai khỏi ảnh hưởng xấu. Đồng thời, ngươi mẹ phải luôn nói năng dịu dàng, cử chỉ khoan thai, giữ cho tâm hồn trong sạch…để gây những ảnh hưởng tốt đẹp cho đứa con tương lai.

Sinh con

Người phụ nữ sinh con dân gian gọi là vượt cạn. Ngày xưa ở nông thôn, khi sản phụ trở dạ, bà đỡ được mời đến. Họ dùng chiếc liềm cũ hoặc mảnh chai, mảnh sành, thanh nứa cật cắt rốn cho đứa trẻ, không dám dùng – dao sắc vì sợ sài. Đoạn rốn cắt phải dài bằng đoạn đùi trên của đứa bé, rồi lấy chỉ thắt lại, khoảng ba đến mười ngày sau thì rốn rụng. Bà đỡ dùng nước ấm, vắt chanh quả tắm kỹ cho trẻ, móc rãi rót trong miệng, mũi, mặc cho nó khóc (khóc nhiều nở phổi), vắt chanh vào mắt cho sáng. Lấy tã lót quấn chặt đứa trẻ và đặt nằm cạnh mẹ, rồi giặt giũ cho sản phụ.

Ở một số địa phương, nếu vợ đẻ khó, người nhà bắt chồng sản phụ làm như sau: cầm một chiếc đòn gánh đứng giữa cửa lao ra đường; trèo lên cây cau cao, ôm cây tụt xuống; lật đít ông đầu rau, nhổ nước bọt vào; viết họ tên một ông quan vào mảnh giấy nhỏ, đốt mảnh giấy lấy tro hoà vối nước cho vờ uổng đồng thời đọc câu thần chú: “Đại nhân nhập, tiểu nhân xuất” (người lớn vào, người bé ra); cho ăn cháo nấu với vừng đen để dễ đẻ; trèo lên mái nhà giật tranh lợp trên nóc; có nơi còn hắt nước lên mái nhà, rồi lấy bát hứng cho sản phụ uống.

Đối với những ngươi mang thai quá thời hạn 9 tháng 10 ngày, người ta gọi là chửa trâu và gán cho một lý do huyền bí, chỉ có thể chữa khỏi bằng những thuật huyền ảo.

Muốn cho người chửa trâu sinh sớm, người chồng phải tìm đến một con trâu, lén cắt đứt sợi dây thừng xỏ mũi con trâu, hoặc lấy một chiếc cọc đóng vào trong chiếc cối giã gạo ở trong nhà. Người ta tin rằng, nhờ những hành động này của người chồng sẽ làm cho người vợ mau sinh. Ngoài ra, người có thai cần phải ăn cháo vừng để cho dễ đẻ.

Đổ cung long

Sau khi sinh con đầy cữ (con trai 7 ngày, con gái 9 ngày), người sản phụ tìm cách trút bỏ hết những sự không may bằng cách mua một thứ gì đó – là trút bỏ sự không may vào đồng tiền trả ra, hay nếu bán một thứ gì là trút bỏ sự không may vào món hàng bán ra. Người đầu tiên đã giao dịch cách ấy với sản phụ là bị đổ cung long (còn gọi là phong long).

Người đầu tiên, không thân thích họ hàng gì, nếu gặp sản phụ sau khi đầy cữ, là bị chạm cung long. Dân gian quan niệm: người bị đổ cung long, cũng như người bị chạm cung long, thường sẽ bị xúi quẩy, gặp nhiều sự không may suốt cả ngày hôm đó – làm việc gì cũng hỏng, buôn bán thì ế ẩm,…

Để cho người ngoài biết mà tránh, không vào nhà để khỏi bị chạm cung long, các sản phụ thường cho treo trước cửa một tàu lá ráy và bảy cục than nếu sinh con trai, chín cục than nếu sinh con gái.

Tục chôn nhau thai

Tục tin rằng, có thai nơi đâu phải sinh tại nơi đó,  nên khi sắp sinh, người đàn bà không dám đi xa, sợ nếu bất thần chuyển bụng khó tìm được nơi lâm bồn. Mỗi lần sinh, ngươi ta phải mời bà mụ. Sau khi đứa trẻ ra đời, các bà mụ thường cắt rốn bằng mảnh sành hay cật nứa. Nhau của đứa trẻ được đặt vào một chiếc nồi đất đậy kín rồi đem chôn. Nhau phải chôn thật sâu để cho đứa trẻ khỏi bị toét mắt và chốc đầu. Chính vì có tục này mà có thành ngữ: “Nơi chôn nhau cắt rốn” để chỉ sinh quán của mỗi người.

Tục xin quần áo cũ

Xin quần áo cũ cho trẻ sơ sinh để lấy khước. Ngay từ khi mới có thai, người phụ nữ đã chú ý xem trong họ hàng bà con, nhà ai nuôi con mát tay, bụ bẫm, chóng lớn, ngoan, thi xin cái áo, cái quần hay tã lót về dùng cho con mình vài ước mong con mình khi đẻ ra cũng hay ăn, chơi ngoan và chóng lớn.

Kiêng khem sau khi sinh con

Xưa kia sau khi sinh, người đàn bà phải kiêng khem rất nhiều. Họ chỉ ăn cơm với muối rang hoặc với nước mắm chưng. Người ta cũng cho rằng, khi mới sinh, người đàn bà dễ mắc bệnh, nên phải kiêng đồ độc, và cần phải uống thuốc bổ để bồi dưỡng cơ thể. Đồng thời sản phụ lại phải kiêng gió lùa, phải xoa người bằng củ nghệ giã nhỏ để cho cơ thể mau hồi phục. Buồng sản phụ phải đốt lửa, người ta thường dùng một bếp than củi, nên người đẻ gọi là nằm bếp; ngoài ra, còn phải đốt lá sơn để tránh sự nhiễm độc trong buồng. Người sản phụ phải ăn kiêng một thời gian, uống nước tiểu của những bé trai 6 – 7 tuổi, không ăn đồ lạnh; tốt nhất là ăn thịt nạc rim nước mắm và hạt tiêu, ăn cơm nếp trộn với nghệ, ăn gân bò cho dễ co dạ con…Người ta cho rằng, sau khi sinh, đường tiêu hoá của sản phụ rất yếu, dễ nhiễm bệnh đường ruột và để lại di chứng về đường tiêu hoá sau này, do vậy, phải kiêng chất tanh như cá, kiêng thịt mỡ.


Khi sinh xong (lâm bồn), trong 3 tháng 10 ngày, sản phụ không được ra ngoài tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, vì cho rằng, nếu phạm, khi đến tuổi trung niên, ra ngoài gặp ánh nắng, sẽ chảy nước mắt và mắt kém; cũng không giặt và rửa nước lạnh, nếu phạm, sau này sẽ chịu rét kém và về già thành còng lưng.

Với quan niệm “sinh dữ, tử lành” người xưa rất kị có người khác đến đẻ trong nhà mình, vì coi đó là điềm rất không may. Nếu có người họ hàng ở xa đến chơi, đến kỳ sinh nở mà không về kịp, thì chủ nhà sẽ đựng tạm một cái lều ở ngoài vườn để sản phụ ra đó mà sinh, sau ba tháng mười ngày, sẽ đưa thẳng mẹ con người ấy về nơi cư trú của họ.

Về ăn uống, sản phụ phải kiêng ăn các chất nóng và cay như hành, tỏi, ót, riềng, hạt tiêu, kiêng uống rượu và các chất kích thích thần kinh như cà phê, thuốc phiện, kiêng hút thuốc; bởi vì nếu không kiêng những thứ này, sẽ bị mất sữa. Đồng thời sản phụ cũng phải kiêng ăn những chất quá bổ như thịt gà, cá chép, ba ba, vì sợ người mẹ và đứa trẻ nếu bị mắc bệnh thì khó chữa khỏi. Tục còn cho rằng sản phụ phải kiêng ăn những thức ăn tanh, lạnh như cá mè, cua, ốc, thịt trâu, vì cho rằng những món này người xưa gọi là “ăn non”, sau này nhìn thấy những thứ đó đã sợ.

Về chỗ nằm của sản phụ, người ta kị nằm ở nơi trống gió. Buồng nằm phải được che kín các cửa sổ, các khe hở cũng phải được bịt kín, cửa ra vào lúc nào cùng phải khép. Người ta cho rằng, người đàn bà mới ở cữ, cơ thể còn rất yếu, nếu nằm nơi thoáng gió, gió độc sẽ qua lỗ chân lông, xâm nhập vào cơ thể, không tốt cho sức khoẻ.

Trong việc đi lại, sản phụ phải kiêng ra gió, ra nắng, kiêng đi nhanh, bước mạnh, kiêng tắm rửa bằng nước lạnh, kiêng vào bếp đun nấu, kiêng tiếp xúc với những vật gây ngứa (bèo, khoai nước), gây bụi, gây rặm (lúa, rơm, trấu), kiêng đi chân đất. Nếu có việc phải ra ngoài trời, họ khắc phục bằng cách chít khăn, đội nón, đi tất, đi giày. Theo kinh nghiệm dân gian, phụ nữ mới đẻ, nếu sớm ra nắng gió, thì sau này sẽ bị quáng mắt; nếu mó vào bèo, sau này sẽ bị bệnh ngứa…

Trong cữ, nếu có người lạ gọi ở ngoài, sản phụ không được trả lời, vì sợ nói chuyện với người lạ, sau sẽ bị nói nhịu. Đẻ xong, phải mặc ấm, kể cả mùa nóng, đầy tháng mới được đun nước tắm gội.

Những kiêng kị này phải được thực hiện trong suốt ba tháng, kể từ ngày sinh con.

Con so vệ nhà mạ, con rạ về nhà chồng

Con so là con đầu lòng, con rạ là những đứa con sinh sau. Con gái về nhà chồng, khi mới sinh con đầu lòng, vì không biết kiêng khem thế nào cho phải, hơn nữa, khi ấy sức khoẻ yếu hơn, muốn nhờ vả mẹ chồng và chị em chồng cũng ngần ngại. Vì vậy, đây là một tập tục hay. Thông thường, gần ngày ở cữ, mẹ chồng (hoặc chàng rể) sang nhà

ngoại thưa chuyện trước, nếu có khó khăn gì thì hai bên bàn bạc và cùng tìm cách giải quyết. Sau này, khi đứa bé đã cứng cáp, chàng rể sắm một ít lễ vật mang sang nhà ngoại tạ ơn và xin ông bà ngoại cho đón hai mẹ con về. Ở Nghệ Tĩnh có phong tục ngược lại: ngoài con dâu, không ai được quyền sinh trong nhà. Con gái về nhà mẹ, nếu trở dạ, phải ra túp lều ngoài vườn hoặc vào chuồng trâu mà đẻ.

Hậu sản

Chỉ các bệnh sản phụ mắc phải sau khi đẻ, phổ biến là suy nhược toàn thân, có khi là lao, do không giuwx vệ sinh tốt và kiêng khem không đúng. Khi bị bệnh, sản phụ phải uống nước giải trẻ con (con trai dưới 5 tuổi) hàng năm liền. Sáng sớm, họ bảo trẻ đái vào đầy bát, uống một hơi, rồi ăn một miếng gừng hoặc cạo lớp cặn trắng ở đáy thùng dựng nước giải, trộn với tinh tre (lớp vỏ xanh ỏ cây tre già), sao khô, sắc lên mà uống.

Cái khém

Tập tục của người Đồng Nai (tên miền Đông Nam bộ xưa) khi sinh con, họ lấy một thanh củi cháy dở cặp vào đầu một cái cọc, đem chôn ngoài cổng; người ta còn buộc kèm thêm một cây ráy. Nếu sinh con trai thì gia chủ quay đầu que củi cháy dở vào phía nhà, còn sinh con gái thì quay đầu que củi cháy dở theo chiều ngược lại. Đó là dấu hiệu trương ở trước cửa ngõ để cho người ngoài biết trong nhà có sinh con trai hay con gái; tục ấy gọi là cái khém, riêng thanh củi cháy dở gọi là cái vỏ lửa.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN