Ý nghĩa của việc cúng gia tiên vào ngày hiếu

Dân tộc ta, nhân dân ta coi “đạo hiếu” là tiêu chuẩn hàng đầu thể hiện trong đạo làm người. Văn học cổ kim ca tụng người con có hiếu và lên án những kẻ bất hiếu.

“Công cha như núi Thái sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

Câu ca dao trên đã khẳng định “đạo hiếu” của con người. Thờ cha kính mẹ phải bằng hành động báo ơn sinh thành, phụng dưỡng khi tuổi già, khi qua đời thì mồ mả yên đẹp, sau khi qua đời thì phụng thờ chu đáo.

Ai cũng biết, cái chết là điều không thể tránh khỏi. Con người sinh ra, lớn lên, trưởng thành, già lão rồi qua đời là một quy luật tất yếu không thể tránh khỏi.

Trong đời sống tâm linh của người Việt quan niệm về cái chết rất thiêng liêng. Chính vì vậy, ông cha ta đã dùng nhiều từ văn hoa để chỉ cái chết: hai năm mươi, về chầu tổ, mãn phần, từ trần, đi xa…

Từ xưa, ai cũng quan niệm việc tang là việc hiếu. Cái chết của con người tạo ra sự đoạn tuyệt với các mối quan hệ trong xã hội, gây ra nỗi đau buồn thương tiếc của những người đang sống, đối với thân thích ruột rà, đối với bà con bè bạn…Chính vì vậy, việc tang được đặt trong lĩnh vực tư tưởng và tình cảm, nhằm thoả mãn nhu cầu của người sống đối với người chết trong giờ phút vĩnh biệt.

Từ lâu đời, dư luận xã hội đã đưa việc tang vào quy phạm đạo đức, xây dựng thành nghi thức và trở thành phong tục tập quán của dân tộc.

Dâng hương và các kỳ giỗ

Trong tục thờ cúng Tổ tiên thì tục dâng hương vong linh người đã khuất vào các kỳ giỗ là quan trọng nhất. Người ta có thể có những lý do nào đó để bỏ lễ dâng hương vào một số kỳ lễ, tiết trong năm nhưng không một người Việt Nam có hiếu nào với Tổ tiên mà lại bỏ qua tục cúng dâng hương người đã khuất vào dịp giỗ ông, bà, bố mẹ, vợ, chồng…

Một trong những mối lo lớn của người Việt Nam ngày xưa là sợ khi chết đi, đến ngày cúng giỗ không có ai hương khói. Bởi vậy, cúng giỗ là thể hiện đạo hiếu, thể hiện tấm lòng thuỷ chung thương tiếc của người đang sống với người đã khuất.

Thế cho nên, vào ngày giỗ của tiên tổ, nhà giàu thì có thể tổ chức cúng giỗ linh đình, mời họ mạc xa gần, anh em bằng hữu về dự, còn nhà nghèo túng thì cúng bát cơm, quả trứng, đĩa muối, lưng canh vái ba nén hương, cây đèn dầu, nến, thờ cúng người đã khuất.

Mấy nguyên tắc chung của cúng giỗ

Thứ nhất: Đối với ngày giỗ của ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng (còn gọi là giỗ trọng) thì ngày hôm trước ngày giỗ cần phải có cúng cáo giỗ. Ngày hôm cúng cáo giỗ còn gọi là ngày tiên thường.

Cúng cáo giỗ là để báo cho người đã khuất biết ngày hôm sau về hưởng giỗ, đồng thời là để báo với Thần Linh Thổ Địa nơi để mộ người đã khuất, cũng như Công thần Thổ Địa tại gia cho phép hướng hồn người đã khuất được về hưởng giỗ. Cúng cáo giỗ bao gồm cúng tại gia và cúng ngoài mộ. Trong cúng cáo giỗ phải cúng Công thần Thổ Địa trước, cúng Gia Tiên sau. Ngoài việc khấn mời vong linh người được giỗ còn phải khấn mời vong linh hương hồn Gia Tiên nội, ngoại cùng về dự giỗ. Nhân dịp cúng cáo giỗ, ngoài mộ cần đắp điếm sửa sang lại mộ phần.

Thứ hai: Làm giỗ và cúng giỗ đúng ngày mất của người được giỗ thường là vào buổi chiều. (Nhiều nơi cho rằng phải làm giỗ trước ngày mất một ngày thì linh hồn người mất mới hưởng được lễ). Có lẽ nói thế vì suy luận phải cúng người mất vào hôm còn sống thì người đó mới có thể “ăn” được, chứ cúng đúng ngày hôm mất thì “ăn” làm sao?

Trong cúng giỗ đúng vào ngày mất của người được hưởng giỗ cần phải cúng mời người được hưởng giỗ trước, sau đó mới đến vong linh hai họ nội, ngoại từ bậc cao nhất trở xuống và cuối cùng là cáo thỉnh Gia Thần cùng dự tiệc giỗ.

Ngày giỗ đầu

Ngày giỗ đầu, hay còn được gọi là “tiểu tường” là ngày giỗ (kỵ giỗ) đầu tiên sau đúng một năm ngày mất của ai đó. Đây là một trong hai giỗ thuộc kỳ tang. Bởi vậy, vào ngày giỗ đầu, người ta thường tổ chức trang nghiêm, bi ai, sầu thảm, chẳng khác là mấy so với ngày để tang năm trước. Nghĩa là con cháu đều vận tang phục, khi tế lễ đều khóc như ngày đưa đám, một số nhà có điều kiện còn thuê cả đội kèn trống nữa.

Vào ngày giỗ đầu, người ta còn thường mua sắm rất nhiều đồ hàng mã, không chỉ là tiền vàng mã mà còn cả những vật dụng như áo quần, nhà cửa, xe cộ và thậm chí còn mua sắm cả hình nhân bằng giấy. “Hình nhân” ở đây không phải để thế mạng cho ai mà là tục tín ngưỡng, tin rằng với phép thuật của thày phù thuỷ thì hình nhân bằng giấy khi đốt đi sẽ hoá thành người hầu hạ vong linh nơi âm giới. Trong thế giới văn minh ngày nay, không phải aì cũng tin tưởng như thế. Mặc dù không tin nhưng có người cũng vẫn làm với ý nghĩa làm vơi đi nỗi xót xa nơi trần thế và để báo ân với vong linh người đã khuất.

Những đồ hàng mã đó, sau buổi giỗ, được đem ra tận ngoài mộ để hoá (đốt). Những đồ hàng mã đốt trong ngày giỗ tiểu tường còn được gọi là “mã biếu”. Gọi là “mã biếu” vì người ta nghĩ rằng những đồ mã này cúng cho vong linh người mất nhưng người đó không được dùng mà phải mang biếu các ác thần để tránh sự quấy nhiễu.

Ngày giỗ hết

Ngày giỗ hết hay còn gọi là “đại tường”, tức là ngày giỗ vào đúng ngày tròn 24 tháng của người quá cố.

Về cơ bản, giỗ hết không khác giỗ đầu là mấy về các thủ tục. Nó vẫn là giỗ trong vòng tang. Chỉ có khác là ngày giỗ hết thường làm linh đình hơn, và sau giỗ này người nhà bỏ tang phục, hay còn gọi là hết tang. Sau ngày giỗ này, người ta sẽ chọn ngày tháng tốt để làm lễ cải cát, sang mộ cho người quá cố . Và từ năm thứ ba trở đi thì giỗ của người quá số trở thành giỗ thường hay ”cát kỵ”.

Bởi thế, nhiều địa phương “ngày giỗ hết là ngày giỗ quan trọng nhất trong tất cả những ngày giỗ đối với người qua đời”. Quan trọng nhất vì nó đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời của người còn sống cũng như đối với vong linh người đã khuất. Với người đang sống, người ta trở lại đời sống thường nhật, có thể tham gia các tổ chức hội hè, đình đám và theo quan niệm xưa thì chỉ sau giỗ hết, người vợ có chồng qua đời mói có thể đi bước nữa.

Ngày giỗ thường

Ngày giỗ thường hay còn được gọi là “cát kỵ” đó là ngày giỗ của người quá cố kể từ năm thứ ba trở đi. Ngày giỗ này, người ta tin vong linh người quá cố đã siêu thoát hay đầu thai trở lại nên không cần thiết phải cúng giỗ nữa.

Nếu như giỗ tiểu tường và giỗ đại tường là lễ giỗ trong vòng tang, còn mang nặng những xót xa, tủi hận, bi ai thì ngày giỗ thường lại là ngày vui của con cháu nội, ngoại: “Trâu bò được ngày phá đỗ, con cháu được ngày giỗ ông” là vậy. Đây là dịp để cháu con hai họ nội, ngoại tề tựu, họp mặt đông đủ. Những dịp như thế cũng là dịp để mọi người trong gia đình, dòng họ gặp nhau thăm viếng sức khoẻ và cố kết cộng đồng gia đình, dòng họ,

Trong các giỗ thường, chỉ có giỗ trọng như ngày giỗ của ông, bà, bố, mẹ, vợ, chồng mới có ngày tiên thường. Còn lại thì không cần thiết phải có ngày tiên thường.

Tuỳ theo phong tục của từng địa phương, từng vùng và từng gia cảnh mà việc tổ chức ngày giỗ có khác nhau nhiều ít. Điều quan trọng nhất là nhân ngày cát kỵ, cháu con tưởng nhớ đến người đã khuất, thể hiện lòng thành với vong linh Tiên tổ. Chén nước, nén hương, bát cơm, quả trứng, đĩa muối, lưng canh mà tâm thành thì cũng giữ được đạo hiếu chứ chẳng cứ mâm cao cỗ đầy mới ra người biết ơn Tiên tổ. Văn lễ cũng vậy, cũng chẳng nên quá cầu kỳ, câu nệ. Miệng khấn nôm na mà tâm tưởng nhớ đến vong linh người đã khuất thì ất là “linh”; còn như miệng đọc văn hoa chữ nghĩa nhưng tâm không thành kính thì Tiên tổ có linh cũng chẳng chứng cho.

Cúng giỗ người đã khuất cốt thể hiện lòng nhân, đạo hiếu, tấc dạ thuỷ chung…của những người đang sống. Đó cũng là nét đạo lý làm người trong truyền thống văn hoá Việt Nam.

Cúng gia tiên ngày giỗ tiểu tường

Ý nghĩa: Ngày giỗ đầu hay còn được gọi là ‘Tiểu Tường*’ là ngày giỗ (kỵ giỗ) đầu tiên sau đúng một nàm ngày mất của ai đó. Đây là một trong hai giỗ thuộc kỳ tang.

Bởi vậy, vào ngày Giỗ Đầu người ta thương tổ chức trang nghiêm, bi ai, sầu thảm chẳng khá gì mấy so với ngày để tang năm trước. Nghĩa là con cháu đều có vận tang phục, khi tế lễ đều có khóc như đưa đám, một số nhà có điều kiện còn thuê cả đội kèn chồng nữa.

Sắm lễ: Vào ngày Giỗ Đầu, ngoài mâm lễ mặn, hoa, quả, hương, phẩm oản, người ta thường mua sắm rất nhiều đồ hàng mã không chỉ là tiền, vàng, mã, giấy mà còn cả các vật dụng như quần, áo, nhà cửa, xe cộ mà thậm chí còn mua sắm cả hình nhân bằng giấy nữa.

“Hình nhân” ở đây không phải để thế mạng cho ai mà là tục tín ngưỡng tin rằng, với phép thuật của thuật của thầy phù thủy thì hình nhân bằng giấy khi đốt đi sẽ hóa thành người hầu hạ vong linh nơi Âm giới.

Sau buổi lễ những đồ vàng mã sẽ được mang ra tận ngoài mộ để hóa (đốt). Nhưng đồ vàng mã đốt trong ngày Tiểu Tường còn được gọi là “mã biếu”. Gọi là mã biếu vì người ta nghĩ rằng những đồ mã này chỉ cúng cho vong linh người mất, nhưng người đó không được dùng mà phải mang biếu các ác thần để tránh sự quấy nhiễu.

VĂN KHẤN NGÀY GIỖ ĐẦU

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tô tiên nội ngoại họ………………………….

Tín chủ (chúng) con là:……………

Ngụ tại:…………………………………………….

Hôm nay là ngày……. tháng……….. năm……..

Chính ngày Giỗ Đầu của…………………..

Năm qua tháng lại, vừa ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời hiển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành.

Thành khẩn kính mời………………………….

Mất ngày………… Tháng……. năm…………….

Mộ phần táng tại:………………………………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên, nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Cô Di và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Cúng gia tiên ngày giỗ đại tường

Ý nghĩa: Ngày giỗ Hết hay còn gọi là ngày “Đại Tường”, tức là ngày Giỗ vào 2 năm 3 tháng sau ngày mất.

Giỗ Hết vẫn là Giỗ trong vòng tang. Ngày Giỗ Hết thường làm linh đình hơn, và sau Giỗ này, người nhà bỏ tang phục, hay còn gọi là hết tang. Sau ngày giỗ Hết, người ta sẽ chọn ngày tháng tốt để làm lễ cải cát, sang mộ cho người quá cố. Và từ năm thứ ba trở đi thì giỗ của người qua cố trở thành giỗ Thường hay “Cát Kỵ”

Bởi vậy, có người bảo “ngày giỗ hết là ngày giỗ quan trọng nhất trong tất cả những ngày giỗ đối với người qua đời”. Quan trọng nhất vì nó đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời của người còn sống cũng như đối với vong linh của người đã khuất. Với người đang sống, người ta trở lại đời sống thường nhật, có thể tham gia các tổ chức hội hè, đình đám. Theo quan niệm xưa thì chỉ sau Giỗ Hết của chồng, người vợ mới có thể đi bước nữa.

Sắm lễ:

Giỗ Hết thường được tổ chức long trọng với: vàng mã, hương, hoa, phẩm oản, trái cây theo mùa, cùng mâm lễ mặn với đầy đủ các món ăn từ thịt lợn, tôm, cua, xôi, gà, …

VĂN KHẤN NGÀY ĐẠI TƯỜNG (GIỖ HẾT)

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Tổ Tiên nội ngoại họ………….

Tín chủ (chúng) con là:…………………………..

Ngụ tại:…………………………………………………..

Hôm nay là ngày ……………………..  tháng ……………….năm………….

Chính ngày Giỗ Hết……. của…………………………………

Thiết nghĩ…………………….. vắng xa trần thế, không thấy âm dung. Năm qua tháng lại vừa ngày Giỗ Hết. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thảm tỉnh, không bề dãi tỏ.

Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tăm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dài tỏ tấc thành.

Thành khẩn kính mời…………………………………………………….

Mất ngày……………….. Tháng………… năm……………..

Mộ phần táng tại:……………………………………………………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Tín chủ lại mời vong lonh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng.

Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷy Bá thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội uà toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Cúng gia tiên ngày Giỗ thường

Ý nghĩa: Ngày Giỗ thường hay còn được gọi là “Cát Kỵ”, đó là ngày Giỗ của người quá cố kể từ năm thứ ba trở đi.

Ngày giỗ này của người quá cố sẽ được duy trì đến hết năm đời. Ngoài năm đời, người ta tin rằng vong linh người quá cố đã siêu thoát hay đầu thai trở lại nên không cần thiết phải cúng giỗ nữa.

Nếu như giỗ Tiểu Tường và giỗ Đại Tường là lễ giỗ trong vòng tang, còn mang nặng những xót xa, tủi hận, bi ai thì ngày giỗ Thường lại là ngày của con chúa nội ngoại xum họp tưởng nhớ người đã khuất.

Đây là dịp để con cháu hai họ nội, ngoại tề tựu họp mặt đông đủ. Những dịp như thế cũng là dịp để mọi người trong gia đình, dòng họ gặp nhau thêm phần thăm viếng sức khỏe cộng đồng gia đình, dòng họ.

Sắm lễ: Vào ngày Cát Kỵ lễ cúng cũng như mọi giỗ khác với đầy đủ: Hương, hoa, quả, phẩm oản, vàng mã và mâm lễ mặn gồm có xôi, gà, các món cơm canh…

Thường thì trong ngày Cát Kỵ, người ta chỉ mời những người trong gia đình họ tộc đến dự (diện mời không rộng như hai giỗ trước).

Theo tục xưa, trước ngày trọng giỗ như: giỗ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng còn có lễ Tiên Thường. Tiên Thường là ngày giỗ trước. Trong ngày Tiên Thường người đứng giỗ phải làm lễ báo với Thổ Thần để xin phép cho hương hồn người được cúng giỗ về phối hưởng và cho phép vong hồn nội ngoại gia tiên nhà mình về cùng dự giỗ. Sau đó, gia chủ ra mộ người được hưởng giỗ để làm lễ mời Tiên linh về dự giỗ, đồng thời các con cháu sửa sang đắp lại mộ phần. Từ sáng ngày Tiên Thường, gia chủ đã phải lau chùi bàn thờ, bày biện lễ vặt của gia chủ và người gửi giỗ.

Trong ngày Tiên Thường, gia chủ phải làm hai lề: lễ cúng yết cáo Thổ Thần và lễ cáo Gia tiên với: hương, hoa, quả, phẩm oản, tiền vàng, trầu, rượu, lễ nặm cúng dâng và khấn theo văn khấn:

VĂN KHẤN GIA TIÊN NGÀY GIỖ THƯỜNG

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thỏ địa cai quản trong xứ này.

– Con kính lạy Tổ Tiên nội ngoại họ…………………………………….

Tín chủ con là………………………………………………………

Ngụ tại…………………………………………………..

Hôm nay là ngày ……………………………..  tháng …………………năm………………….

Chính ngày giỗ của………………………………………………..

Thiết nghĩ…………………………. Vắng xa trần thế, không thấy âm dung.

Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Ngày mai Cát Kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu, nhất tăm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành.

Tâm thành kính mời………………………………………………….

Mất ngày…………………… tháng…………………. năm………..

Mộ phần táng tại………………………………………………………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tôi lành, gia canh hưng long thịnh vượng.


Con lại xin kính mời các vị Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Tín chủ con lại xin kính mời ngàu Thần Linh, Thổ địa, Thổ Công, Táo Quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng.

Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Chú ý:

Theo phong tục cổ truyền của người Việt Nam luôn coi trọng ngày cúng giỗ Tổ Tiên. Ngày giỗ Thường – Cát Kỵ là ngày kỷ niệm người chết qua đời. Đây là điều quan trọng nhất trong phụng sự Tổ Tiên. Con cháu phải nhớ ngày này để làn tròn bổn phận với người mất.

Suốt từ lúc cáo giỗ ngày Tiên Thường cho đến hết ngày hôm sau, bàn thờ lúc nào cũng có thắp hương.

Dùng thủ lợn hoặc thủ bò để thờ Thổ Công trong ngày giỗ.

Khách tới ăn giỗ có thể mang đồ lễ là vàng hương, trầu rượu, trà nến, hoa quả. Khi khách tối, con cháu phải đón đồ lễ đặt lên bàn thờ trước khi khách lễ.

Khách lễ trước bàn thờ: 4 lạy 3 vái. Gia chủ đứng đáp lễ. Lễ bàn thờ xong, khách quay vái người đáp lễ.

Sau khi bày cỗ bàn, thắp hương, gia chủ khăn áo chỉnh tề bước vào chiếu trải trước bàn thờ, chuẩn bị lễ.

Gia chủ đứng thẳng, chắp hai tay giơ cao lên ngang trán, cong mình cúi xuống, đặt hai tay vẫn chắp xuống chiếu, cúi rạp đầu xuống hai tay đang chắp (thể thủ phục), cất đầu và mình thẳng lên, đồng thời co chân phải lên chiếu để sửa soạn đứng dậy, hai bàn tay vẫn chắp xuống tì vào đầu gối bên phải mà đứng lên.

Sau khi gia chủ, con cháu, bạn bè thân hữu, khách khứa khấn lễ xong. Đợi hết ba tuần hương thì gia chủ lế tạ, hóa văn khấn, hóa vàng, rồi xin lộc hạ lễ.

Cuối cùng gia chủ bày bàn, bày mâm cỗ mời họ tộc, khách khứa ăn giỗ, cùng ôn lại những kỷ niệm về người đã khuất và thăm hỏi lẫn nhau.

Tại sao có lễ cúng cơm trong 100 ngày?

Gia đình Việt Nam nhà nào cũng vậy, mỗi ngày có hai bữa cơm là giờ phút đầm ấm nhất. Trong nhà có người về muộn, mọi người cũng cô chò về ăn cơm một lúc cho vui vẻ, đầm ấm. Con cháu cầm bát cơm lên, trước hết mời ông bà, cha mẹ, chò ông bà, cha mẹ rồi mói bắt đầu mối dám ăn. Có nơi xói bát cơm lần thứ hai còn mời nữa. Nếu có khách, trước khi buông bát đũa đứng dậy còn phải xin phép và mời khách tiếp tục xơi cơm. Cuộc sống gia đình đang vui vẻ, êm đẹp như vậy, váng mặt trong bữa cơm còn nhác, huống chi vĩnh viễn đi xa. Do đó, trước bữa ăn người thân dâng lên bàn thờ một bát cơm úp, một vài món ăn bình thường, nhà ăn thứ gì cúng thứ đấy, thường là tinh khiết, không đòi hỏi cầu kỳ, nhà nghèo thì lưng cơm, đĩa muối cũng xong. Thắp hương xong, dựng đôi đũa vào giữa bát cơm, có rượu thì rót chén rượu. Khấn vái xong cũng rót chén nước.

Thờ cúng vong linh cũng giống như đang sống, cũng là để thoả nguyện tâm linh, “Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương”.

Nhưng tại sao lại cúng 100 ngày?

– Cũng tuỳ địa phương, có nơi chỉ cúng 49 ngày (tức là lễ chung thất). Theo thuyết của Phật giáo: qua 7 lần phán xét, mỗi lần 7 ngày đi qua một điện ở âm ty (tức 1 tuần, nhưng không phải tuần lễ theo dương lịch); sau 7 tuần vong hồn đã siêu thoát. Có nơi cúng hết 100 ngày (tức lễ tốt khốc nghĩa là thôi khóc). Theo giải thích của các cụ ngày xưa thì thời gian này âm hồn vẫn còn phảng phất luẩn quẩn trong nhà chưa đi xa.

Chúng tôi cho rằng, phong tục này có căn cứ khoa học: Theo thuyết Thần giao cách cảm, ngoài điện trường vật lý đã được ứng dụng trong thực tiễn, còn có điện trường sinh học. Những cá thể có cùng tần số cảm ứng trong điện trường sinh học, mặc dầu ở cách xa nhau rất xa vẫn nhận được những nguồn thông tin của nhau. Các nhà khoa học đã vận dụng những phát triển đó đê giải thích về điềm, về giấc mơ, về những biểu hiện tâm, sinh lý bất thường khi thân nhân (có thể cách nhau rất xa về không gian) có cùng tần số điện trường sinh học có sự biến bất thường. Người ta bảo chết là hết. Nhưng, chết chưa phải là đã hết khi người chết còn tồn tại trong tâm chí người sống. Sau khi chết, tim ngừng đập, máu ngừng chảy, thần kinh cảm giác ngừng hoạt động, vỏ não chưa bị huỷ, xung quanh hiện trường phát từ não vẫn chưa ngừng phát sóng. Lớp đất dày không ngăn được sóng điện vật lý hay sóng điện sinh học. Cá thể sống có tần số điện trường sinh học tương ứng vẫn tiếp nhận được tín hiệu, do đó hiện tượng báo mộng chưa hẳn là vu vơ, không đáng tin. Phải chăng vì lẽ đó mà các cụ cho rằng âm hồn còn phảng phất, chưa siêu thoát.

VĂN KHẤN LỄ CÚNG CƠM

Kính lạy:

– Đức Đương niên bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương!

– Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân!

– Chư vị gia tiên cao tằng tổ tỷ!

Hôm nay là ngày….tháng…….…năm……………………………….. (âm lịch)

Con trai trường là……………………………………………………….. vâng theo lệnh của mẫu (hoặc phụ) thần và các chú, cùng các anh chị em dâu, rể, con cháu nội – ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày lễ cúng cơm co truyền,

Kính dâng lễ mọn, biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của…………………………………………

Xin kính cẩn thưa rằng:

Nhân sinh tại thế,

Hoạ mấy người sống chín, mười mươi,

Đôi ba mươi năm củng kể một đời,

Song, vận sốbiết làm sao được.

Ơn mẹ cha đạo cả sinh thành, đêm ngày dạy dỗ:

Đường ăn, nếp ở, việc cửa việc nhà.

Cho trọn vẹn đường đi trăm mối.

Bỗng đâu gió cả, phút bẻ cành mai,

Hoa lia cây, rụng cánh tới bời,

Yến lìa tổ, kêu xuân vò võ.

Từ nay: trăng lặn sao dời, hồn đã biến về nơi Tây Trúc.

Từ nay lấy ai chăm sóc cháu con,

Ngày chầy sáu khắc, đêm vắng năm canh,

Tưởng thấp thoáng bóng hình trên khói.

Hết đợi thôi chờ, nắng hồng giá lạnh….

Nhớ nơi ăn, chốn ở, buồng nằm

Như cắt ruột, xé lồng con trên trần thế.

Mấy dòng kể lể.

Chiêu hồn về than thở nguồn cơn.

Cầu anh linh phù hộ cháu, con.

Cầu Thần Phật độ tri, cho vong hồn siêu thoát…

Than ôi! Thượng hưởng!

BÀI KHẤN LỄ TẾ THÀNH PHẦN

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Hôm nay là ngày…………. tháng…….. năm……. (âm lịch)

Nhân ngày lễ thành phần, theo nghi lễ cổ truyền, Kính dâng lễ mọn, biểu lộ lòng thành.

Chúng con trước mộ mà than rằng:

Xót xa thay con tạo đa đoan

Bể thẳm thành cồn, ngao ngán nhẽ hóa cơ thay đổi.

Than ôi!

Kém một ngày không đi, muôn năm giấc mộng,

Để âm dương chia rẽ đôi đường.

Thêm một ngày không ở, ba thước đào sâu,

Biết bao giờ con lại gặp cha (hay mẹ).

Người thế ấy, mà sao phận thế ấy,

Bỗng đâu, sốtrời xui khiến

Cõi âm dương đôi ngả xa vời.

Mắt trông thấy đào sâu lấp kín,

Tủi nỗi lòng chín khúc ngổn ngang.

Nhưng cũng: mừng thay sông trọn, thác toàn

Nay đã mồ yên mả đẹp

Tuy còn chôn đất đỏ, cỏ vàng

Cũng bởi trời cho trọn hiếu,

Gọi là nén hương, đài rượu

Trước mồ xin hãy thấu tình.

Kính trần bái tạ.

Hỡi ơi! Xin hưởng!

BÀI KHẤN LỄ PHẢN KHỐC

Than ôi!

Thân phụ (hay mẫu) đi đâu, bỏ nơi trần thế

Mồ yên mả đẹp, di hài đã tìm được chốn đất lành.

Sống khôn, chết thiêng

Bài vị xin rước về nơi linh toạ.

Hôm mai thăm viếng, chốn từ đường đâu dám trễ lòng

Công đức cao dày; trên linh toạ chứng cho lễ bạc.

BÀI KHẤN LỄ TẾ NGU

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Kính lạy:

Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

Đức Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

Đức Gia tiên và các hương linh nội, ngoại

Hôm nay ngày………….. tháng…….. năm………. (âm lịch)

Con trai trưởng là:……………………… cùng toàn gia quyến.

Nhân ngày Tế ngu (cúng 3 ngày) theo nghi lễ cổ truyền. Chúng con kính sửa trầu rượu, cụ soạn, dâng lên trước linh toạ khóc mà than rằng:

Than ôi!

Vật đổi sao dời, mây bay, trăng khuyết

Khá trách thay tạo hoá đa đoan.

Chi đến nỗi đàn con đau đớn,

Nhớ cha (hay mẹ) xưa tính nết thảo hiền, dưới nhường trên kính,

Ngoài làng trong họ, kẻ mến người yêu

Tưởng cảnh đoàn viên

Trời cho sống tròn tám chín mười mươi tuổi;

Để đền công ơn ba năm bú mớm,

Sẻ ngọt chia bùi một nhà sum họp


Trời cho sống đủ ba vạn sáu ngàn ngày

Để đền ơn chín tháng cưu mang, đẻ đau mang nặng.

Thương ơi!

Tóc tơ chưa báo, công đức chưa đền.

Bỗng đâu một phút hơi tàn,

Ám cung hạ cánh muôn năm giấc mộng, chia rẽ Bắc Nam

Đành rằng phách lạc bơ vơ, tàng hiểm đã yên một giấc

Hồn bay phảng phất, biết đâu định sở mà về.

Dầu khóc vắn than dài, tỉm đâu cho thấy;

Dẫu tôi kêu sớm gọi, khôn nỗi dò la.

Thôi thì thôi!

Hơn một ngày không ở, kém một ngày không đi;

Không còn sớm tối trông nom, khuyên răn con cháu.

Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một chứng; Không còn người ngày đêm dạy bảo, săn sóc đàn con.

Nay Sơ Ngu tế (Tam Ngu tế) dâng chút lòng thành

Đĩa muối, lưng cơm, chén canh, đài rượu.

Công đức cao dày, trên linh toạ chứng tình chay nhạt;

Khóc than kể lể, hoạ may chín suối anh linh, được về.

Ôi! Thương ôi! Thượng hưởng

BÀI KHẤN 49 NGÀY

Hôm nay là ngày…tháng…..năm…….. (âm lịch)

Nhân tuần chung thất (hoặc bách nhật)

Chúng con cùng toàn gia quyến kính sửa: trầu rượuy cỗ bàn dảng lên cha (mẹ), chứng giám cho lòng thành.

Than ôi!

Thân phụ (mẫu) đi đâu, vội vàng chi mấy;

Trời cao có thấu, thảm thiết muôn phần thương thay!

Đời người giấc mộng, hình ảnh phù vân;

Ngày tựa chim bay, tiết vừa bốn chín (hoặc trăm ngày);

Thoi đưa thấm thoắt nay đã bảy tuần (hoặc trăm ngày),

Cây lặng gió lay, khóc làm sao được;

Lưng cơm đĩa muối, gọi chút đền ân.

Xin cha (mẹ) về thượng hưởng.

Cẩn cáo!

Trường hợp cháu đích tôn cúng ông, bà thì có thể dùng bài sau:

… Than ôi!

Mây bạc xa ngăn cuộc thế, não nùng thảm cảnh, một niềm lo;

Trời xanh nỡ để mối sầu, ngơ ngẩn buồn tình, trăm việc rối.

Ngậm ngùi trong dạ, luống băn khoăn;

Sụt sùi bên lòng, thêm nhức nhối.

Tường thừa hoan, cảnh muốn còn lâu

Song trần mộng, người đà lánh khỏi

Than ôi! Âm dương cách biệt, sông gửi thác về;

Mưa gió thảm sầu, sao dời vật đổi.

Ngày qua tháng lại, năm tuần (hoặc 100 ngày) đọc văn tế tư thân;

Thỏ lặn ác tò, chung thất (hoặc tốt khóc), bày lễ nghi theo thóũ

Thảm thiết nhẽ! Đi thương về nhớ, bóng tiên linh, đoái thấy những mơ màng;

Đau đớn thay! Than vắn thở dài, lòng hậu tự, biết bao chừng cảm đội.

Ngán thay! Cây muốn lặng, gió chẳng đừng,

Nén nỗi! Ngày thêm buồn, đêm lại tủi.

Thôi! Thời thôi!

Người về quê tổ, biết lấy chi báo đức, đền ơn,

Con (cháu) ở cõi trần, nguyện cầu được lượng tình, xá tội.

Biết tìm đâu, gót tiêu dao hạc nội mây ngàn;

Xin thấu rõ, cảnh bần bạc, lưng cơm đĩa muối

Hỡi ơi! Xin hưởng!

VĂN KHẤN LỄ ĐẢM TẾ

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cao tằng tổ khảo, Cao tằng tổ tỷ

Hôm nay là ngày….tháng…………………….. năm………….. (âm lịch)

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………………………………… vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ thân nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày Lễ Đàm Tế theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển……………………………………………. chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Than ôi! Nhớ bóng phụ thân (hoặc mẫu thân);

Cách miền trần thế

Tủi mắt nhà Thung (nếu là cha, hoặc nhà Huyên nếu là mẹ) mây khóc, thăm thắm sầu phiền.

Đau lòng núi Hỗ (nếu là cha hoặc núi Dĩ nếu là mẹ)

sao mờ, đầm đìa ai lệ

Kể năm đã quá Đại Tường;

Tính tháng nay làm Đàm Tế.

Tuy lẽ hung biến cát; tang phục kết trừ;

Song nhăn tử sự thân, hiếu tâm lưu để.

Lễ bạc, kính dáng gọi chút, há dám quên, cây cội nước nguồn,

Suối vàng, như có thấu chăng, họa may tỏ, trời kinh đất nghĩa.

Xin kính mời: Hiển…………………………….                           .

Hiển…………………………………………….

Hiển…………………………………………….

Cùng các vị Tiên linh Tổ bá, Tổ Thức, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ về hăm hưởng.

Kính cáo: Liệt vị Tôn thần, Táo quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên SưNgủ tư Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho toàn gia sự tốt lành.

Chúng con lễ bạc tâm thành cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Sau 2 năm và 3 tháng dư ai, chọn một ngày tốt làm lễ: Đắp sửa mộ dài thành mộ tròn, cất khăn tang, huỷ đốt các thứ thuộc phần lễ tang, rước linh vị vào bàn thờ chính, bỏ bàn thờ tang.

VĂN KHẤN LỄ CẢI TÁNG

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô Ả Di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cao tằng tổ khảo, Cao tằng tổ tỷ

Hôm nay là ngày…tháng…. năm……………tại tỉnh…….. huyện…… xã …………… thôn………………………………….

Hiển khảo (hoặc hiển tỷ)………………………………….. mộ tiền

Than rằng: Thương xót cha (hay mẹ) xưa, vắng xa trần thế.

Thác về, sống gửi, đất ba thước phải vùi chôn.

Phách lạc hồn bay, hình trăm năm khó gìn giữ;

Lúc trước việc nhà bối rối, đặt đề còn chưa hợp hướng phương.

Tới nay, tìm đất tốt lành, sửa sang lại, cầu an hình thể.

Rày thân: Phần mộ dời xong, lễ Ngu kính tế.

Hồn thiêng xin hưởng, nguyện cầu vĩnh viễn âm phần.

Phúc để di lưu, phù hộ vững bền miêu duệ,

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Ghi chú: Lễ cải táng là lễ sang mộ, dời mộ.

Xin lưu ý: Theo phong tục trước và sau khi dời mộ phải khấn trinh với Long mạch, Sơn thần và Thổ thần nơi cũ và nơi mới. Sau đây là văn khấn Long Mạch, Sơn thần và Thổ thần.



BÀI VIẾT LIÊN QUAN